- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyễn Thị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu tuyên bố ông Lê Linh T mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2021/QĐST-VDS | Thành phố Bến Tre, ngày 12 tháng 7 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Hoàng Út
Thư ký phiên họp: Ông Mai Chiến Trực
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp: Ông Huỳnh Thanh Nhã - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 129/2021/TLST-VDS ngày 26 tháng 5 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 07/2021/QĐST-VDS ngày 25 tháng 6 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1987;
Nơi cư trú: khu N, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị T: Ông Dương Tiến N, sinh năm: 1948 là người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị T (Theo văn bản ủy quyền ngày 07/7/2021);
Nơi cư trú: Số 5C, khu tập thể P, phường P, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, người yêu cầu là bà Nguyễn Thị T và người đại diện theo ủy quyền là ông Dương Tiến N trình bày:
Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Linh T (Sinh năm: 1982; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 86A, ấp M, xã MT (nay là xã BP), thành phố BT, tỉnh Bến Tre) kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ vào ngày 28/4/2009. Sau khi kết hôn, bà T và ông T sống chung với nhau tại số 86A, ấp M, xã MT (nay là xã BP), thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Đến năm 2011, bà T và ông T phát sinh mâu thuẫn, bà về sinh sống tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, riêng ông T bỏ nhà đi cho đến nay, bà đã cố gắng tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của ông T. Nay bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Linh T mất tích để bà khởi kiện vụ án ly hôn đối với ông T và bà T không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của ông T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:
Hồ sơ việc dân sự thể hiện: Theo biên bản xác minh tại Công an xã BP, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, ông Lê Linh T đã bỏ địa phương đi hơn 02 năm, mặc dù bà T đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng đến nay không nhận được tin tức gì của ông T. Vì vậy, căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 387, 388, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T tuyên bố ông Lê Linh T mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố ông Lê Linh T, sinh năm: 1982 (Nơi cư trú cuối cùng: Số 86A, ấp M, xã MT (nay là xã BP), thành phố BT, tỉnh Bến Tre) mất tích nên xác định đây là vụ việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố ông Lê Linh T, sinh năm: 1982 (Nơi cư trú cuối cùng: Số 86A, ấp M, xã MT (nay là xã BP), thành phố BT, tỉnh Bến Tre) mất tích, thấy rằng: Theo biên bản xác minh tại Công an xã BP, thành phố BT, tỉnh Bến Tre thể hiện ông Lê Linh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 86A, ấp M, xã MT (nay là xã BP), thành phố BT, tỉnh Bến Tre nhưng ông T đã bỏ địa phương đi khoảng 08 năm, hiện không rõ ông T đang ở đâu, nghĩa là ông T đã biệt tích hơn 02 năm. Bà T đã cố gắng tìm kiếm đồng thời đã có thông báo trên báo Công lý trong 03 số liên tiếp là 65 (1708), 66 (1709), 67 (1710) vào các ngày 14/8/2019, 16/8/2019, 21/8/2019 và phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong 03 ngày liên tiếp vào các ngày 11/9/2019, 12/9/2019, 13/9/2019 nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của ông T. Vì vậy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố ông Lê Linh T mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự nên được Tòa án chấp nhận.
Về biện pháp quản lý tài sản của người mất tích: Do bà Nguyễn Thị T không yêu cầu áp dụng nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về việc giải quyết việc dân sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, bà Nguyễn Thị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 387; Điều 388; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 37 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội,
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu tuyên bố ông Lê Linh T mất tích. Tuyên bố ông Lê Linh T, sinh năm: 1982 (Nơi cư trú cuối cùng: Số 86A, ấp M, xã MT (nay là xã BP), thành phố BT, tỉnh Bến Tre) mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng mà bà Nguyễn Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005370 ngày 24 tháng 5 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
3. Bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Đối với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - VKSND thành phố Bến Tre; - UBND xã BP, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; - Lưu: hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Lê Hoàng Út |