vanban.org

Quyết định 04/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Tuyên án 16/08/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Mai Thị H.

Tuyên bố ông Vũ Văn T, sinh năm 1975, nơi cư trú trước khi biệt tích: Đội 13 T, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định là người mất tích. Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Vũ Văn T được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 68, Điều 69 Bộ luật Dân sự (nếu c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Mai Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Mai Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 387 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 388 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2021/QĐST-VDSTrực Ninh, ngày 16 tháng 8 năm 2021.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Chu Thái Hà.

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký TAND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2021/TLST-VDS ngày 22 tháng 3 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2021/QĐST - VDS ngày 09 tháng 8 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Mai Thị H, Sinh năm 1979, trú tại: Đội 13 T, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1975, nơi cư trú trước khi biệt tích: Đội 13 T, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định.

Tại phiên họp: Bà H có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu, tại bản tự khai bà Mai Thị H trình bày:

Năm 1997 bà kết hôn với ông Vũ Văn T có được đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống vợ chồng bà có 01 con chung là Vũ Tiến Th sinh ngày 20 tháng 10 năm 1998. Tháng 6 năm 2006 ông T bỏ nhà đi đến nay không lần nào trở về. Gia đình đã tìm kiếm nhưng không có tin tức gì về ông T đang ở đâu, làm gì. Nay bà làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn T là người mất tích để bà thực hiện việc ly hôn với ông Vũ Văn T theo quy định pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai của bà Phạm Thị G (mẹ đẻ của ông Vũ Văn T) trình bày: Bà là mẹ đẻ của ông Vũ Văn T. Bà xác nhận việc ông T đã bỏ nhà đi từ tháng 6 năm 2006 đến nay không có tin tức. Đối với việc bà Mai Thị H có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn T mất tích, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện VKSND huyện Trực Ninh tại phiên họp có quan điểm đề nghị:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là mất tích, xác minh sự vắng mặt của ông T tại địa phương, thông báo tìm kiếm ông T trên các phương tiện thông tin đại chúng đảm bảo các quy định của pháp luật. Việc Tòa án quyết định mở phiên họp vào ngày 16 tháng 8 năm 2021 đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đúng quy định tại Điều 70 BLTTDS.

Căn cứ các Điều 68 BLDS, Điều 387; 388; 389 BLTTDS: Chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị H về việc yêu cầu tuyên bố ông Vũ Văn T mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện VKSND huyện Trực Ninh tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh nhận định:

Về tố tụng: Ông Vũ Văn T là người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại Đội 13 T, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 35, Điều 39 BLTTDS.

Ông Vũ Văn T là chồng của bà Mai Thị H nên bà H là nguời có quyền yêu cầu tuyên bố ông T là mất tích theo quy định tại Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người yêu cầu là bà Mai Thị H có đơn đề nghị Toà án giải quyết việc dân sự vắng mặt. Tòa án vẫn tiến hành mở phiên hợp vắng mặt bà Mai Thị H là đúng quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung bà Mai Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết:

Theo bà H trình bày: Năm 1997 bà kết hôn với ông Vũ Văn T có được đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống vợ chồng bà có 01 con chung là Vũ Tiến Th sinh ngày 20 tháng 10 năm 1998. Tháng 6 năm 2006 ông T bỏ nhà đi đến nay không lần nào trở về. Gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về ông T đang ở đâu, làm gì. Nay bà làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn T mất tích để bà thực hiện việc ly hôn với ông Vũ Văn T theo quy định pháp luật.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của bà H, TAND huyện Trực Ninh đã ra quyết định thông báo tìm ông T trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể là phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần liên tiếp vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 07,08,09 tháng 4 năm 2021, đăng trên Báo Công Lý ba số liên tiếp là 28, 29, 30 ra các ngày 07, 09, 14 tháng 4 năm 2021, Cổng thông tin điện tử của TAND tối cao. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát đầu tiên thông báo tìm kiếm của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức gì của ông T.

Chính quyền địa phương cũng cho biết ông T đã đi biệt tích khỏi địa phương từ tháng 6 năm 2006, địa phương cũng không biết hiện nay ông T ở đâu.

Ông T đã biệt tích 02 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống hoặc đã chết. Do vậy yêu cầu của bà Mai Thị H là phù hợp với các quy định tại các điều 68 của Bộ luật dân sự và các điều 387; 388; 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được Tòa án chấp nhận. Ngoài yêu cầu trên, bà H không có yêu cầu nào khác nên không xem xét.

Về hậu quả pháp lý của việc ông Vũ Văn T bị tuyên bố là mất tích: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn T có hiệu lực pháp luật thì khi người có quyền và lợi ích liên quan có yêu cầu về quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Vũ Văn T được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 68, Điều 69 Bộ luật Dân sự.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Mai Thị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự; Điều 387; 388; 389 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Toà án:

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Mai Thị H.

Tuyên bố ông Vũ Văn T, sinh năm 1975, nơi cư trú trước khi biệt tích: Đội 13 T, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định là người mất tích.

2. Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Vũ Văn T được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 68, Điều 69 Bộ luật Dân sự (nếu có yêu cầu).

3. Lệ phí: Bà Mai Thị H phải nộp 300.000 đồng (được trừ vào khoản đã nộp tạm ứng lệ phí 300.000 đồng nộp tại biên lai thu số AA/2019/0002363 ngày 22 tháng 3 năm 2021 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Bà H đã nộp xong lệ phí dân sự sơ thẩm.

4. Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc quyết định giải quyết việc dân sự được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

VKSND huyện Trực Ninh có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ