vanban.org

Quyết định 04/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Thường Tín, TP. Hà Nội Tuyên án 10/05/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Hồ Văn H về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 01/7/1087; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã T, huyện T, Thành phố H mất tích. Anh Hồ Văn H phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "QĐ TUYÊN BỐ MẤT TÍCH NGUYỄN THỊ THANH"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Hồ Văn H về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
THÀNH PHỐ H
………………..

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2021/QĐST-VDS
Ngày: 10/5/2021
T, ngày 10 tháng 5 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – THÀNH PHỐ H

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Trung Hòa

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Đức Toàn – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, Thành phố H mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 56/2020/TLST-VDS ngày 15 tháng 12 năm 2020 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2021/QĐST-VDS ngày 04 tháng 5 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Hồ Văn H, sinh năm 1979

Đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, TP. H.

- Người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 01/7/1987. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã T, huyện T, Thành phố H.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu và các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, người yêu cầu, anh Hồ Văn H trình bày: Anh Hồ Văn H và chị Nguyễn Thị T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/8/2006 tại Ủy ban nhân dân xã T , huyện T, Thành phố H. Sau khi kết hôn, chị Nguyễn Thị T đăng ký hộ khẩu thường trú và sống cùng với anh Hồ Văn H tại thôn H, xã T, huyện T, TP. H. Năm 2008, chị Nguyễn Thị T đi lao động tại Nga đến năm 2011 thì trở về địa phương, cuộc sống vợ chồng hòa thuận, chị T và gia đình anh H không phát sinh mâu thuẫn gì. Tuy nhiên, đến năm 2016 do đời sống tình cảm không hòa hợp nên giữa anh H và chị T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Khoảng tháng 8/2016, chị T đã bỏ nhà đi. Anh H cùng gia đình có nhiều biện pháp tìm kiếm chị T nhưng không có kết quả. Nay, anh H đề nghị Tòa án nhân dân huyện T tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích để làm thủ tục ly hôn nhằm ổn định cuộc sống. Anh H và chị T có một con chung là cháu Hồ Anh T, sinh ngày 24/01/2007, cháu Hồ Anh T đang ở cùng anh H. Anh H và chị T không có tài sản chung, công nợ chung nên anh H không yêu cầu Tòa giải quyết.

Ngày 25/12/2020, Tòa án nhân dân huyện T đã đăng tin tìm kiếm chị Nguyễn Thị T trên báo Công lý ba số liên tiếp 3, 4, 5 vào các ngày 08, 13, 15/01/2021 và trên kênh VOV đài tiếng nói Việt Nam ba ngày liên tiếp 01, 02, 03/01/2021 nhưng đến nay vẫn không có tin tức về địa chỉ và nơi cư trú của chị T. Đại diện Công an xã và chính quyền xã T xác nhận kể từ giữa năm 2016 đến nay, chị T vắng mặt tại địa phương, chị T không thực hiện thủ tục đăng ký tạm vắng tại Công an xã T. Chính quyền địa phương không biết chị Thanh đi đâu, làm gì.

Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh H cho biết chị Nguyễn Thị T không đăng ký hộ khẩu thường trú và không sinh sống tại thôn T, xã H, huyện M, tỉnh H. Chị T không có mặt tại địa phương kể từ thời điểm đi lấy chồng đến nay. Gia đình chị Nguyễn Thị T hiện không sinh sống tại thôn T, xã H, huyện M, tỉnh H.

Tại phiên họp, anh H giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích theo yêu cầu của anh Hồ Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T nhận định:

1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Theo đơn yêu cầu, anh Hồ Văn H đề nghị Tòa án giải tuyên bố chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã T, huyện T, TP. H mất tích nên xác định đây là việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, người yêu cầu đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

3] Về nội dung việc dân sự:

Chị Nguyễn Thị T đi khỏi nơi cư trú cuối cùng tại Thôn H, xã T, huyện T, TP. H từ giữa năm 2016 đến nay đã gần năm năm không có tin tức, địa chỉ ở đâu. Anh Hồ Văn H cùng gia đình đã có nhiều biện pháp tìm kiếm chị T nhưng không có kết quả. Tòa án nhân dân huyện T đã đăng thông tin tìm kiếm chị Nguyễn Thị T trên báo Công lý ba số liên tiếp 3, 4, 5 vào các ngày 08, 13, 15/01/2021 và trên kênh VOV đài tiếng nói Việt Nam ba ngày liên tiếp 01, 02, 03/01/2021 nhưng đến nay vẫn không có tin tức về địa chỉ và nơi cư trú của chị T. Chính quyền địa phương xác nhận chị T đi khỏi địa phương từ giữa năm 2016 đến nay không có tin tức, địa chỉ ở đâu. Chị T không làm thủ tục khai báo tạm vắng tại Công an xã và kể từ giữa năm 2016 đến nay chị T không liên lạc với gia đình. Xét thấy: Yêu cầu của anh Hồ Văn H về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 68 của Bộ luật Dân sự và Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên được chấp nhận.

4] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Hồ Văn H phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0012586 ngày 15/12/2020 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện T. 5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo quyết định theo quy định tại Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng Dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 1 Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 361, các Điều 149, 370, 371, 372, 387, 388 và 389 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Hồ Văn H về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích.

2. Tuyên bố chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 01/7/1087; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã T, huyện T, Thành phố H mất tích.

3. Anh Hồ Văn H phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0012586 ngày 15/12/2020 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện T.

4. Người có yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ