vanban.org

Quyết định 04/2021/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã T, huyện T, tỉnh H về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật đối với anh Hà Văn H và chị Bùi Minh T.

Chấp nhận yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh Hà Văn H và chị Bùi Minh T. Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Hà Văn H, sinh ngày: 23/4/1986 và chị Bùi Minh T, sinh ngày: 10/7/1987; ĐKHKTT tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh H kể từ thời điểm hai bên đủ điều kiện kết hôn (Kể từ ngày 23 tháng 4 nă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Hà Văn H và chị Bùi Minh T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã T, huyện T, tỉnh H về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật đối với anh Hà Văn H và chị Bùi Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2021/QĐST-HNGĐThanh Miện, ngày 30 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Lại Anh Vân.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hùng -Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Xuê - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tiến hành mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2021 về việc “Yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 04/2021/QĐST-VDS ngày 22 tháng 11 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: UBND xã T, huyện T, tỉnh H.

Đại diện theo pháp luật của người yêu cầu: Ông Vũ Đình N - Chủ tịch UBND xã T.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Hà Văn H, sinh ngày 23/4/1986 và chị Bùi Minh T, sinh ngày 10/7/1987, có hộ khẩu thường trú tại: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh H.

Ông Vũ Đình N; anh Hà Văn H, chị Bùi Minh T vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Quá trình kiểm tra lý lịch các tài liệu lưu trữ tại UBND xã T, huyện T, tỉnh H và phản ánh của công dân. UBND xã T phát hiện trường hợp anh Hà Văn H sinh ngày 23/4/1986 và chị Bùi Minh T, sinh ngày 10/7/1987, có hộ khẩu thường trú tại: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh H kết hôn ngày 02 tháng 11 năm 2004 là trái pháp luật. Căn cứ theo các tài liệu chính gồm: Căn cước công dân, sổ hộ khẩu gia đình, giấy khai sinh, sổ học bạ xác định anh Hà Văn H, sinh ngày 23/4/1986 nhưng ngày 02/11/2004 đã tiến hành đăng ký kết hôn với chị Bùi Minh T, sinh ngày 10/7/1987 tại UBND xã T, khi đó anh H còn thiếu 05 tháng 22 ngày mới đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật HNGĐ năm 2000: “Nam từ 20 tuổi trở lên, Nữ từ 18 tuổi trở lên”. Do khi đến đăng ký kết hôn tại UBND xã, anh H và chị T đã khai với cán bộ xã họ tên là Hà Văn H sinh tháng 03/1985 và Bùi Thị T (tên chính xác là Bùi Minh T) sinh ngày 10/02/1983; do thời điểm đó cán bộ xã làm việc đa phần còn nể nang và việc kiểm tra lý lịch của người dân đến làm thủ tục đăng ký kết hôn chưa chính xác dẫn đến việc UBND xã T đã đăng ký kết hôn cho anh H, chị T và ghi trong giấy chứng nhận kết hôn số 51, quyển số 01/2004 thể hiện họ tên chồng: Hà Văn H, ngày tháng năm sinh là tháng 03/1985 và họ tên vợ: Bùi Thị T, ngày tháng năm sinh là 10/02/1983. UBND xã T nhận thấy việc đăng ký kết hôn của anh H và chị T và ban hành giấy chứng nhận kết hôn trên là trái pháp luật. Việc đăng ký kết hôn trái pháp luật đã gây ra cho anh H và chị T nhiều vấn đề khó khăn trong quá trình sinh sống và ảnh hưởng đến việc học hành, thi cử đối với các con của anh chị khi các tài liệu hồ sơ, năm sinh của bố mẹ không khớp nhau và các cháu không được làm các thủ tục đăng ký dự thi đại học vào các trường mình yêu thích. Hiện tại anh Hà Văn H và chị Bùi Minh T vẫn chung sống hạnh phúc và không có mâu thuẫn gì. Vì vậy UBND xã T đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn (kèm chứng nhận kết hôn của UBND xã T cấp cho anh H và chị T ngày 02/11/2004). Bên cạnh đó, nếu anh H và chị T yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn thì đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện tạo điều kiện để công nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị.

Tại biên bản lấy lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh H, chị T trình bày: Anh chị được tự do, tự nguyện tìm hiểu và tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Tuy nhiên, tại thời điểm đi đăng ký kết hôn, anh H chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân gia đình thời điểm đó (anh H sinh ngày 23/4/1986, nên còn thiếu 05 tháng 22 ngày mới đủ tuổi đăng ký kết hôn theo Luật HNGĐ năm 2000). Do vậy, khi đến UBND xã T làm thủ tục đăng ký kết hôn, anh chị thống nhất khai tăng tuổi anh H là Hà Văn H từ sinh ngày 23/4/1986 thành sinh tháng 03/1985, còn chị T khai đăng ký kết hôn với họ tên đệm là Bùi Thị T, sinh ngày 10/02/1983 (họ tên chính xác là Bùi Minh T, sinh ngày 10/7/1987) để có thể đủ tuổi đăng ký kết hôn. Do vậy UBND xã T đã đăng ký kết hôn cho anh chị tại Giấy chứng nhận kết hôn số 51, quyển số 01/2004 thể hiện họ tên chồng: Hà Văn H, ngày tháng năm sinh là tháng 03/1985 và họ tên vợ: Bùi Thị T, ngày tháng năm sinh là 10/02/1983. Kể từ thời điểm đăng ký kết hôn cho đến nay, anh chị về tổ chức cuộc sống chung hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì và đã sinh được 02 con chung gồm: Hà Thùy Trang, sinh ngày 10/8/2005 và Hà Tuấn Tài, sinh ngày 02/02/2008. Vì vậy, anh chị cùng thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương công nhận quan hệ hôn nhân của vợ chồng anh chị kể từ thời điểm anh chị đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp và thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý vụ việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện áp dụng: Khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 149, Điều 370, 371 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối Cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối Cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

+ Không chấp nhận đơn yêu cầu của UBND xã T, huyện T, tỉnh H.

+ Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Hà Văn H sinh ngày 23/4/1986 và chị Bùi Minh T, sinh ngày 10/7/1987, tại thời điểm anh chị đủ điều kiện kết hôn là ngày 23/4/2006.

+ Về lệ phí: Anh Hà Văn H và chị Bùi Minh T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Hà Văn H và chị Bùi Minh T đều có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh H. Qua kiểm tra, UBND xã T phát hiện trường hợp anh H và chị T kết hôn trái pháp luật nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật (kèm giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của anh H và chị T năm 2004); đồng thời trong quá trình giải quyết anh H và chị T đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn. Căn cứ Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự việc Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện thụ lý vụ việc dân sự là đúng thẩm quyền.

[2] Về tố tụng: Người yêu cầu là UBND xã T, huyện Thanh Miện; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Hà Văn H và chị Bùi Minh T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp là phù hợp với quy định tại khoản 2, 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án sẽ tiến hành mở phiên họp vắng mặt người yêu cầu.

Về nội dung yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (kèm theo giấy chứng nhận kết hôn của anh H, chị T năm 2004) của UBND xã T và yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh H, chị T kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn là có căn cứ chấp nhận. Căn cứ theo các tài liệu có trong hồ sơ như Căn cước công dân, sổ hộ khẩu gia đình, giấy khai sinh, sổ học bạ và một số giấy tờ tùy thân khác của anh H và chị T, đã có đủ căn cứ chứng minh anh Hà Văn H sinh ngày 23/4/1986 và chị Bùi Minh T, sinh ngày 10/7/1987. Vào ngày 02/11/2004, anh H đăng ký kết hôn với chị T tại UBND xã T nhưng do chưa đủ tuổi nên anh H, chị T đã thống nhất tự khai tăng tuổi anh H (từ sinh ngày 23/4/1986 thành sinh tháng 03/1985) và chị T (từ Bùi Minh T, sinh ngày 10/7/1987 thành Bùi Thị T, sinh ngày 10/02/1983) để có thể đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo luật định. Do thời điểm đó cán bộ xã làm việc đa phần còn nể nang và việc kiểm tra lý lịch của người dân đến làm thủ tục đăng ký kết hôn chưa chính xác dẫn đến việc UBND xã T đã đăng ký kết hôn cho anh H, chị T và ghi trong giấy chứng nhận kết hôn số 51, quyển số 01/2004 thể hiện họ tên chồng: Hà Văn H, ngày tháng năm sinh là tháng 03/1985 và họ tên vợ: Bùi Thị T, ngày tháng năm sinh là 10/02/1983. Việc kết hôn đó đã vi phạm vào Điều 9 Luật HNGĐ năm 2000: “Nam từ 20 tuổi trở lên, Nữ từ 18 tuổi trở lên” và là kết hôn trái pháp luật. Do vậy UBND xã T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện hủy việc kết hôn trái pháp luật (kèm theo giấy chứng nhận kết hôn của anh H, chị T năm 2004) là có căn cứ chấp nhận theo Điều 15 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi đăng ký kết hôn, anh H và chị T tổ chức cuộc sống chung hạnh phúc và sinh được 02 con chung là Hà Thùy Trang, sinh ngày 10/8/2005 và Hà Tuấn Tài, sinh ngày 02/02/2008. Quá trình chung sống, anh H và chị T không có mâu thuẫn gì và đều thống nhất đề nghị công nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị kể từ thời điểm đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Yêu cầu công nhận hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a, b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối Cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối Cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, vì vậy không cần hủy việc kết hôn trái pháp luật mà công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Hà Văn H và chị Bùi Minh T kể từ thời điểm anh H đủ điều kiện kết hôn là ngày 23/4/2006.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự:

- UBND xã T, huyện T, tỉnh H không phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự;

- Anh H và chị T cùng có đơn yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 6 Điều 3, Điều 8, 10, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a, b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149, 370, 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2016; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Không chấp nhận yêu cầu của UBND xã T, huyện T, tỉnh H về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật đối với anh Hà Văn H và chị Bùi Minh T.

Chấp nhận yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân của anh Hà Văn H và chị Bùi Minh T.

2. Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Hà Văn H, sinh ngày: 23/4/1986 và chị Bùi Minh T, sinh ngày: 10/7/1987; ĐKHKTT tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh H kể từ thời điểm hai bên đủ điều kiện kết hôn (Kể từ ngày 23 tháng 4 năm 2006).

3. Về lệ phí:

- UBND xã T, huyện T, tỉnh H không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

- Anh Hà Văn H và chị Bùi Minh T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, được đối trừ vào tiền tạm ứng lệ phí anh H, chị T đã nộp theo biên lai số: AA/2020/0004045 ngày 19 tháng 11 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

4. Quyền kháng cáo: UBND xã T; Anh H và chị T có quyền kháng cáo Quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra Quyết định; Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày ra Quyết định.

Cỡ chữ