- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với Tiết Văn D"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố ông Tiết Văn D, sinh năm 1973, nơi cư tr cuối cùng tại: Khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2021/QĐST-DS | H, ngày 05 tháng 5 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Tạ Chí Dũng.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên họp: Bà Lâm Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 106/2020/TLST-VDS ngày 11 tháng 11 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 10/2021/QĐST-VDS ngày 28 tháng 4 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Hàng Thị V, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
- Người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Tiết Văn D, sinh năm 1975. Địa chỉ cư tr trư c khi biệt tích: Khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Vào ngày 10 tháng 11 năm 2020, bà Hàng Thị V, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố H tuyên bố ông Tiết Văn D, sinh năm 1973 mất tích. Bà V trình bày: Bà và ông Tiết Văn D chung sống v i và được UBND xã M, thị xã H (nay là thành phố H) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 17/11/1998. Ông bà chung sống v i nhau có 03 con chung tên Tiết Thị Mỹ L, sinh năm 1999, gi i tính nữ; Tiết Thị Mỹ Q, sinh năm 2004, gi i tính nữ và Tiết Minh K, sinh năm 2013, gi i tính nam. Vào ngày 22/02/2017, hai đứa con tên Tiết Thị Mỹ L và Tiết Thị Mỹ Q làm đơn yêu cầu khởi tố hình sự đối v i ông Tiết Văn D. Đến khoảng 12 giờ trưa cùng ngày, Công an tìm bắt ông D thì ông D bỏ trốn đến nay. Khi đi, ông D đem hết tất cả các giấy tờ đất đai và bà V phải nuôi con một mình cho đến nay. Hiện nay bà V không có tin tức gì về việc ông D còn sống hay đã chết, hiện sống ở đâu. Bà V đã làm đơn xin xác nhận việc ông D có đăng ký thường tr tại địa phương, từ năm 2017 đến nay ông D không có mặt ở địa phương, hiện nay ông D đi đâu làm gì địa phương không nắm. Nơi cư tr cuối cùng của ông Tiết Văn D là Khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. Nay bà Hàng Thị V yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Tiết Văn D mất tích theo quy định của pháp luật.
Kèm theo đơn yêu cầu gồm các tài liệu, chứng cứ: Giấy CMND tên Hàng Thị V (phô tô chứng thực); Sổ hộ khẩu tên Tiết Văn D (phô tô chứng thực); Trích lục kết hôn (bản sao); Đơn xin xác nhận của Công an phường M ngày 20/10/2020.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố H nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu và căn cứ vào khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự có quan hệ pháp luật là yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Bà Hàng Thị V yêu cầu tuyên bố ông Tiết Văn D, sinh năm 1973, nơi cư tr cuối cùng: Khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang mất tích. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
Vào ngày 10 tháng 11 năm 2020, bà Hàng Thị V, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố H tuyên bố ông Tiết Văn D, sinh năm 1973 mất tích. Bà V và ông Tiết Văn D chung sống v i nhau và được UBND xã M, thị xã H (nay là phường M, thành phố H) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 17/11/1998. Ông bà chung sống v i nhau có 03 con chung tên Tiết Thị Mỹ L, sinh năm 1999, gi i tính nữ; Tiết Thị Mỹ Q, sinh năm 2004, gi i tính nữ và Tiết Minh K, sinh năm 2013, gi i tính nam. Vào ngày 22/02/2017, hai đứa con tên Tiết Thị Mỹ L và Tiết Thị Mỹ Q làm đơn yêu cầu khởi tố hình sự đối v i ông Tiết Văn D. Cùng ngày, Công an tìm bắt ông D thì ông D bỏ trốn đến nay. Hiện nay bà V không có tin tức gì về việc ông D còn sống hay đã chết. Bà V đã làm đơn xin xác nhận việc ông D có đăng ký thường tr tại địa phương, từ năm 2017 đến nay ông D không có mặt ở địa phương, hiện nay ông D đi đâu làm gì địa phương không nắm. Nơi cư tr cuối cùng của ông Tiết Văn D là Khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. Vì vậy, bà V yêu cầu tuyên bố ông D mất tích.
Qua kết quả xác minh tại địa chỉ thường tr và cũng là nơi cư tr cuối cùng của ông Tiết Văn D ngày 13/11/2020 thể hiện ông D có đăng ký thường trú tại Khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang nhưng đã bỏ địa phương đi từ năm 2017 đến nay không thấy về (B t lục 21). Ngày 01/12/2020, Tòa án đã ban hành Quyết định số 07/2020/QĐDS-ST thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối v i ông Tiết Văn D. Nội dung thông báo đã được đăng trên Báo Công lý 03 số liên tiếp: Số 103 ngày 25/12/2020, số 104 ngày 29/12/2020 và số 01 ngày 01/01/2021. Đồng thời phát sóng trên Đài truyền hình Việt Nam kênh VTV9 vào các ngày 07, 08 và 09/1/2021 ở khung giờ 17 giờ 55 ph t đến 18 giờ.
Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”. Đã hết thời hạn công bố thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối v i ông Tiết Văn D theo quy định tại các điều 384, 385 và 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông D còn sống hay đã chết. Tại phiên họp, bà V vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố ông D mất tích. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự đối v i Thẩm phán, Thư ký phiên họp đều thực hiện đ ng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà V về việc tuyên bố ông D mất tích. Xét thấy yêu cầu của bà V là hoàn toàn phù hợp v i quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận yêu cầu của bà V, tuyên bố ông Tiết Văn D mất tích.
Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà V phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 371, Điều 372, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố ông Tiết Văn D, sinh năm 1973, nơi cư tr cuối cùng tại: Khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Hàng Thị V phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Sau khi đối trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009177 ngày 11/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Kiên Giang, bà V không phải nộp thêm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Hàng Thị V có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định (ngày 05/5/2021).
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND TP. H; - Chi cục THADS TP. H; - Công an P.M, H-KG; - Người yêu cầu; - Lưu: Hồ sơ VDS. | Tạ Chí Dũng |