- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "TUYÊN BỐ MẤT TÍCH"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị H,
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2021/QĐST-DS | Thọ Xuân, ngày 23 tháng 02 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Minh Tiến
Thư ký phiên họp: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Ông Đỗ Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 40/2020/TLST-DS ngày 28 tháng 9 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2021/QĐST-DS ngày 08 tháng 02 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989, địa chỉ: Xóm , xã Th1, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cao Văn K, sinh năm 1984, nơi ĐKHKTT và cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn M, xã Th, huyện T tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu và bản tự khai, người yêu cầu là chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị H và anh K có quan hệ là vợ chồng, lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thuận Minh (xã Xuân Châu cũ), huyện Thọ Xuân vào ngày 07/12/2009. Sau khi kết hôn, tình cảm giữa vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Đến tháng 12/2015 thì anh K đã bỏ nhà đi không rõ tung tích, từ đó đến nay không về, cũng không liên lạc gì với gia đình, vợ con. Từ khi anh K bỏ đi chị đã tìm kiếm nhiều nơi, hỏi thăm bạn bè, người thân nhưng không có ai biết tin tức gì của anh K. Đến nay chị vẫn không có tin tức gì về anh K, nên chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân tuyên bố anh Cao Văn K mất tích và có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đối với anh K theo quy định.
Tại quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 23/2020/QĐ-TA ngày 30/9/2020 Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Cao Văn K theo đúng quy định, cụ thể: Tại Báo Nhân dân các số 23724, 23725, 23726 ra vào các ngày 04, 05, 06 tháng 10 năm 2020, cũng như Đài tiếng nói Việt Nam phát lúc 17 giờ 30 phút các ngày 14, 15, 16 tháng 10 năm 2020 đã nhắn tin, phát tin tìm kiếm anh Cao Văn K theo quy định, nhưng đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên vẫn không có tin tức về anh Cao Văn K.
Tại phiên họp chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Tòa án tuyên bố anh Cao Văn K mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết: đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân áp dụng Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 68 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H, tuyên bố anh Cao Văn K là người mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H yêu cầu tuyên bố anh Cao Văn K, có HKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn M, xã Th, huyện T tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Cao Văn K được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên họp không có lý do, nên căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh K.
Về nội dung yêu cầu: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Cao Văn K là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, quá trình chung sống tình cảm giữa vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn; đến tháng 12/2015 anh K đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, không tin tức. Từ khi anh K bỏ đi đến nay đã hơn 2 năm, chị H đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức về anh K, không biết anh K hiện đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết, nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân tuyên bố anh Cao Văn K mất tích và có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đối với anh K. Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân đã thụ lý việc dân sự và ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Cao Văn K, đồng thời thực hiện các thủ tục thông báo tìm kiếm theo quy định trên Đài tiếng nói Việt Nam và trên Báo Nhân dân. Ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm anh K lần đầu tiên là ngày 04/10/2020, tính đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng, nhưng vẫn không có tin tức gì về anh Cao Văn K.
Từ những phân tích nêu trên, xác định: anh Cao Văn K đã bỏ đi biệt tích từ tháng 12 năm 2015 đến nay là hơn 2 năm; chị Nguyễn Thị H là vợ đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về anh Cao Văn K. Do đó, có căn cứ chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị H và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tại phiên họp, tuyên bố anh Cao Văn K mất tích là phù hợp.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị H phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 149, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị H,
Tuyên bố anh Cao Văn K, sinh năm 1984, nơi ĐKHKTT và cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn M, xã Th, huyện T tỉnh Thanh Hóa mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng, chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0006191 ngày 28/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.
- Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.
- Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thọ Xuân; - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân; - P. kiểm tra nghệp vụ và THA, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Người yêu cầu; - Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã Thọ Xương; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Minh Tiến |