vanban.org

Quyết định 04/2021/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 10/09/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của Bà Lê Phương L:

Tuyên bố ông Lê Phương B, sinh năm 1972; nơi cư trú cuối cùng: đường Tr, phường C, quận N, thành phố H mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của Bà Lê Phương L:
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2021/QĐDS-STQuận N, ngày 10 tháng 9 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ H

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Văn Mười

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân quận N, thành phố H.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H tham gia phiên họp: Ông Bùi Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận N, thành phố H mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 12/2021/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 286/2021/QĐST-DS ngày 17 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên họp số 36/2021/QĐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Phương L; nơi cư trú: đường Tr, phường C, quận N, thành phố H.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Lê Phương L có em trai là Lê Phương B, sinh năm 1972. ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng tại: Số đường Tr, phường C, quận N, thành phố H. Năm 1995 em trai bà vi phạm pháp luật bị truy nã về tội Giết người và Hủy hoại tài sản của công dân, vì vi phạm pháp luật nên em bà đã bỏ nhà đi đâu từ đó cho đến nay chưa về, không điện thoại và không có bất cứ tin tức gì về cho gia đình, hiện nay không ai biết em bà đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Nay gia đình bà giải quyết thủ tục hành chính có liên quan đến em trai bà. Vì vậy, bà Lê Phương L yêu cầu Toà án nhân dân quận N, thành phố H tuyên bố em trai bà là Lê Phương B mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận N, thành phố H nhận định:

- Về yêu cầu tuyên bố một người mất tích:

Bà Lê Phương L có em trai là Lê Phương B, sinh năm 1972. Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng tại: Số 108 đường Tr, phường C, quận N, thành phố H. Năm 1995 em trai bà vi phạm pháp luật đã bỏ trốn và bị truy nã về tội “Giết người và Hủy hoại tài sản của công dân”, vì vi phạm pháp luật nên em bà đã bỏ nhà đi đâu từ đó cho đến nay chưa về, không điện thoại và không có bất cứ tin tức gì về cho gia đình, hiện nay không ai biết em bà đang ở đâu. Nay gia đình bà giải quyết thủ tục hành chính có liên quan đến em trai bà. Vì vậy, bà Lê Phương L yêu cầu Toà án nhân dân quận N, thành phố H tuyên bố em trai bà là ông Lê Phương B mất tích.

Ngày 02/4/2021, bà Lê Phương L có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố mất tích đối với ông Lê Phương B. Ngày 08/4/2021 Tòa án nhân dân quận N, thành phố H đã thụ lý việc dân sự yêu cầu tuyên bố ông Lê Phương B mất tích theo đơn yêu cầu của bà Lê Phương L; đồng thời thông báo nhắn tìm ông Lê Phương B trên Báo Công lý, Đài tiếng nói Việt Nam, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Tối cao và Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân thành phố H.

Tòa án nhân dân quận N, thành phố H căn cứ vào đơn xin xác nhận tại địa phương nơi cư trú của ông Lê Phương B xác nhận, ông Lê Phương B vắng mặt tại nơi cư trú cuối cùng, địa chỉ đường Tr, phường C, quận N, thành phố H, từ năm 1995 cho đến nay.

Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo nhắn tìm ông Lê Phương B lần đầu tiên, Tòa án và gia đình vẫn không nhận được tin tức gì về ông Lê Phương B. Xét thấy: Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biên pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết. Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó. Căn cứ vào đơn xác nhận của địa phương nơi cư trú của ông Lê Phương B nhận thấy: Ông Lê Phương B vắng mặt tại nơi cư trú cuối cùng: Số 108 đường Tr, phường C, quận N, thành phố H, từ năm 1995 cho đến nay. Như vậy việc bà Lê Phương L có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố em trai bà là ông Lê Phương B mất tích là có căn cứ. Vì vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Phương L về việc yêu cầu tuyên bố ông Lê Phương B mất tích.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Phương L phải nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định Tòa án có thể tuyên bố một người là mất tích khi: Người đó biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biên pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết.

Mặc dù không có văn bản quy phạm pháp luật quy định thế nào là “biệt tích” nhưng có thể hiểu sự vắng mặt của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là bởi các lý do khách quan nằm ngoài mong muốn của người biệt tích và người biệt tích không cố ý bỏ trốn, lẩn tránh. Trường hợp ông Lê Phương B là đối tượng đang bị truy nã, bỏ trốn khỏi địa phương từ năm 1995 đến nay và hiện vẫn đang bị cơ quan có thẩm quyền truy bắt. Nếu tuyên bố ông Lê Phương B mất tích thì vô hình chung đã công nhận việc bỏ trốn của ông Lê Phương B là hợp pháp. Vì vậy, việc bà Lê Phương L yêu cầu Tòa án nhân dân quận N tuyên bố ông Lê Phương B mất tích là không có căn cứ.

Căn cứ các điều 68, 69 của Bộ luật Dân sự, khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Phương L về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Phương B mất tích.

- Về vấn đề quản lý tài sản: Do không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về lệ phí việc dân sự: Bà Lê Phương L phải nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các điều 367, 369, 370, 371, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận đơn yêu cầu của Bà Lê Phương L:

Tuyên bố ông Lê Phương B, sinh năm 1972; nơi cư trú cuối cùng: đường Tr, phường C, quận N, thành phố H mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Bà Lê Phương L phải nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm bà Lê Phương L đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0006958 ngày 08 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố H. Bà Lê Phương L đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Bà Lê Phương L được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H được quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H được quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ