vanban.org

Quyết định 04/2021/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 17/03/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 02/2021/QĐST-DS ngày 11/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B.

Về án phí: Buộc nguyên đơn bà Vũ Thị Hồng H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã đóng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số AA/2016/0018941 ngày 28/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất — án dân sự — "ông H yêu cầu Hủy HĐCNQSDĐ"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 02/2021/QĐST-DS ngày 11/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự ban hành Quyết định đình chỉ giải; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2021/QĐ-PTLâm Đồng, ngày 17 tháng 3 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đỗ Mạnh H

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Hữu N

Ông Nguyễn Văn T

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2021/QĐST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2021,

Tòa án nhân dân thành phố B đã căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế H – sinh năm 1969 và bà Vũ Thị Hồng H – sinh năm 1970, cùng trú tại: Số nhà 207/76 đường 3/2, phường 11, quận 10, thành phố H.

- Bị đơn: Ông Trương Hồng S – sinh năm 1984 và bà Lê Mai Lệ H – sinh năm 1984; cùng trú tại: số nhà 01 đường Ngô Thị Nhậm, phường 2, thành phố B, tỉnh L.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông ông Bùi Văn T – sinh năm 1984, Số nhà 150 đường Tô Hiến Thành, phường 3, thành phố Đ, tỉnh L

+ Ông Vũ Xuân V – sinh năm 1940, trú tại: Số 109 đường Lê Hồng Phong, phường 1, thành phố B, tỉnh L

Tại đơn kháng cáo ngày 27 tháng 01 năm 2021 nguyên đơn bà Vũ Thị Hồng H không đồng ý nội dung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 02/2021/QĐST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc với lý do: Thẩm phán ban hành Thông báo nộp tiền chi phí tố tụng không có căn cứ, trái quy định pháp luật; không xem xét đến các trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến việc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trái pháp luật.

XÉT THẤY:

Ngày 11/01/2021, Tòa án nhân dân thành phố B đã căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 02/2021/QĐST-DS với lý do: Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng.

Do đó, ngày 27/01/2021, nguyên đơn bà Vũ Thị Hồng H kháng cáo không đồng ý với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 02/2021/QĐST-DS ngày 11/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên họp, Hội đồng phúc thẩm nhận thấy:

Ngày 17/12/2020 ông Nguyễn Văn Lâm là Đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Thế H và bà Vũ Thị Hồng H (theo văn bản ủy quyền ngày 26/10/2020 và văn bản ủy quyền ngày 02/11/2020) có nộp Đơn yêu cầu Xem xét thẩm định tại chỗ và Đơn yêu cầu Thẩm định giá tài sản tranh chấp. Cùng ngày, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc ban hành Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 56/TB-TA và đã tống đạt cho ông Nguyễn Văn Lâm (BL 67).

Theo Thông báo số 56/TB-TA ngày 17/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo đương sự phải đến trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B để nộp số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo vẽ là 10.000.000 đồng. Hết thời hạn nêu trên nếu không nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng mà không có lý do chính đáng thì Tòa án sẽ không xem xét yêu cầu và giải quyết vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.

Đối với số tiền tạm ứng chi phí tố tụng, đây là số tiền Tòa án tạm thu nhằm đảm bảo cho việc xem xét thẩm định tại chỗ đã được quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật tố tụng dân sự: “Tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số tiền mà Tòa án tạm tính để tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ”, do đó Tòa án nhân dân thành phố B yêu cầu nguyên đơn phải đóng số tiền 10.000.000 đồng là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.

Ngày 11 tháng 01 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố B ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi hết thời hạn mà Tòa án ấn định người có nghĩa vụ phải nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng (sau 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận Thông báo số 56/TB-TA ngày 17/12/2020) là phù hợp với hướng dẫn tại Mẫu số 04-DS Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Đối với trường hợp mà pháp luật không quy định thì thời hạn đương sự phải nộp chi phí tố tụng là 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 20 ngày”. Bà Vũ Thị Hồng H trình bày: do bà ở xa và đang điều trị nội trú nên không thể đóng tiền tạm ứng chi phí tố tụng theo đúng thời gian mà Tòa án yêu cầu, tuy nhiên bà H và Người đại diện theo ủy quyền không có bất cứ tài liệu hay chứng cứ nào thể hiện việc bà H đang điều trị dài ngày tại bệnh viện hay gặp các trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan để Tòa án cấp sơ thẩm xem xét gia hạn thời gian phải nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng.

Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án nhân dân thành phố B căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 02/2021/QĐST-DS ngày 11/01/2021 là có căn cứ pháp luật.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị Hồng H, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 02/2021/QĐST-DS ngày 11/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B.

Căn cứ Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 02/2021/QĐST-DS ngày 11/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B.

2. Về án phí: Buộc nguyên đơn bà Vũ Thị Hồng H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã đóng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số AA/2016/0018941 ngày 28/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh L;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

- TAND Tp B;

- CCTHADS Tp B;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đỗ Mạnh Hùng

Các Thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp Bùi Hữu Nhân Nguyễn Văn Thanh

Đỗ Mạnh H

Thư ký phiên họp: Ông Phạm Khánh Thành Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh L

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L tham gia phiên họp: Bà Võ Thị Kim Anh, kiểm sát viên.

Từ những phân tích trên cho thấy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án 37/2020/QĐST-DS ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh là có căn cứ pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh L;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

- TAND huyện Di Linh;

- CCTHADS huyện Di Linh;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đỗ Manh H

Các thẩm phán

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp Bùi Hữu Nhân Nguyễn Hữu Mừng

Vũ Thị Nguyệt

Cỡ chữ