- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn Chiến - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT Quy định về tốc độ và khoảng cá…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 11 Luật Giao thông đường bộ
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2021/HS-ST Ngày 27/01/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hữu và Lê Xuân Hường
- Thư ký phiên toà: Bà Bạch Thị Hà - Thư ký TAND huyện H;
- Đại diện VKSND huyện H tham gia phiên toà: Ông Bùi Đức Lâm - Kiểm sát viên.
Vào lúc 14h, ngày 27 tháng 01 năm 2021, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2021/TLST-HS, ngày 13 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2021/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Phan Văn C; Tên gọi khác: C Còng; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 08 tháng 3 năm 1980 tại xã Tùng A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh;
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: số nhà 31 đường Nguyễn Văn G, tổ dân phố 9, phường Trần P, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 5/12. Con ông: Phan Văn H; Sinh năm: 1949; Con bà: Bùi Thị T; Sinh năm: 1953; Hiện đang sinh sống tại phường Trần P, thành phố H - Hà Tĩnh; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai. Vợ: La Thị Hương; sinh năm: 1991; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
* Người bị hại: Cháu Võ Tá Đ; sinh năm 2009; Địa chỉ; Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Học sinh. (Đã chết)
* Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Võ Tá T; sinh năm 1983; Địa chỉ: tổ liên gia 2, Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do.(Có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần vận tải ô tô H. Do anh Trần Ánh D; sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ 3, phường Nguyễn D, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh làm đại diện theo ủy quyền.(Có mặt)
1
* Người làm chứng:
- Anh Trần Văn D; sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Xuân H, Thị trấn L, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh.(Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T; sinh năm 1958; Địa chỉ: Khu phố 1, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn C (có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) là nhân viên hợp đồng lái xe cho Công ty cổ phần vận tải ô tô H, có địa chỉ tại số 141, đường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 01/12/2020, Phan Văn C được giao điều khiển xe ô tô buýt biển kiểm soát 38B-009.57, chở hành khách chạy tuyến từ thành phố H đi thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và chiều ngược lại. Đến khoảng 17 giờ 05 phút cùng ngày, Phan Văn C điều khiển xe ô tô buýt biển kiểm soát 38B-009.57 xuất phát từ thị trấn T, huyện H để đi về thành phố H. Đi cùng xe còn có anh Trần Văn D, trú tại Thị trấn L, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh làm nhiệm vụ kiểm soát hành khách, cùng với khoảng 6-7 hành khách ngồi ở các dãy ghế phía sau.
Đến khoảng 18 giờ 38 phút cùng ngày, khi về đến địa phận Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh trên tuyến đường Quốc lộ IA theo chiều hướng từ thành phố Vđến thành phố H. Phan Văn C điều khiển xe ô tô di chuyển trên làn đường dành cho xe cơ giới ngoài cùng (sát với giải phân cách cứng), với tốc độ khoảng 60km/h, lúc này trời đã tối và có mưa phùn nhẹ. Khi đi đến Km502+710 Quốc lộ IA do không phát hiện thấy phương tiện nào di chuyển nên C vẫn giữ nguyên tốc độ, đồng thời ra tín hiệu còi báo hiệu và tiếp tục điều khiển xe đi vào khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Quốc lộ IA với đường liên thôn. Khi đi vào đến ngã tư thì Phan Văn C phát hiện thấy một chiếc xe đạp do cháu Võ Tá Đ, sinh năm 2009, trú tại Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển một mình di chuyển từ đường liên thôn phía bên trái đường Quốc lộ IA theo chiều từ thành phố Vđến thành phố H, đi qua ngã tư nói trên, cách phía trước đầu xe ô tô biển kiểm soát 38B-009.57 do C điều khiển khoảng 3-4 mét. Ngay lúc đó C đã đạp phanh chân, gạt cần số về số 02 (phanh số), đồng thời đánh lái sang phía bên phải để tránh va chạm với xe đạp do cháu Đ điều khiển. Tuy nhiên, do khoảng cách quá gần nên phía trước đầu xe ô tô buýt biển kiểm soát 38B-009.57 đã húc ngang vào giữa thân xe đạp phía bên phải do cháu Võ Tá Đ điều khiển làm cháu Đ bị hất văng ngã nằm trên mặt đường. Hậu quả làm cháu Võ Tá Đ bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu, điều trị đến ngày 03/12/2020 thì bị tử vong, xe ô tô và xe đạp bị hư hỏng nhẹ.
* Biên bản khám nghiệm hiện trường vào hồi 18h 55p, ngày 01/12/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phản ánh:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Quốc lộ IA với đường liên thôn và đường liên xã, không có dải phân cách
2
bê tông ở giữa đường. Vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 502+710 đường Quốc lộ IA, chiều đi từ thành phố Vđến thành phố H, thuộc địa phận Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được rải nhựa bẳng phẳng, không có hệ thống đèn chiếu sáng, có vạch sơn kẻ phần chia làn đường thành 03 làn đường gồm 02 làn đường dành cho xe cơ giới mỗi làn rộng 3,5m và 01 làn dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 2,0m, có vạch sơn kẻ chỉ dẫn cho người đi bộ sang ngang.
Lấy chân cột biển báo cảnh báo nguy hiểm người đi bộ sang ngang nằm ở lề đường phía bên phải của đường Quốc lộ IA hướng từ thành phố Vđến thành phố H nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông làm điểm mốc. Lấy mép đường nhựa bên phải của đường Quốc lộ IA hướng từ thành phố Vđến thành phố H nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông làm chuẩn.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông được mô tả thứ tự theo hướng từ thành phố Vđến thành phố H và theo số thứ tự ký hiệu trên sơ đồ hiện trường như sau: Từ điểm mốc đo đến vị trí điểm đầu của vết cày xước trên mặt đường nhựa là 39,20 mét, vết cày xước trên mặt đường được ký hiệu số (1) trên sơ đồ hiện trường. Vết cày xước (1) nằm trên cả 02 làn đường dành cho xe cơ giới có dạng đường thẳng đứt đoạn, có màu trắng đục, chiều hướng từ thành phố Vđến thành phố H, có kích thước 14,90m x 0,02m. Vết (1) được chia thành 02 đoạn cách nhau 3,5m trong đó đoạn 1 có kích cs4,0m x 0,01m có màu trắng đục mờ nhạt. Từ vị trí đầu của vết (1) của đoạn 1 đo vào mép đường chuẩn là 6,0m, từ vị trí điểm cuối của đoạn (1) đo vào mép đường chuẩn là 5,50m. Đoạn 2 có màu trắng đục có kích thước 7,40m x 0,02m, từ vị trí đầu đoạn 2 đo vào mép đường chuẩn là 5,50m, từ vị trí điểm cuối của đoạn 2 đo vào mép đường chuẩn là 5,30m.
Từ vị trí điểm đầu vết (1) đo đến điểm đầu vết trượt lốp thứ nhất là 1,40 mét, vết trượt lốp thứ nhất được ký hiệu số (2) trên sơ đồ hiện trường. Vết (2) nằm trên cả 02 làn đường dành cho xe cơ giới có màu đen dạng đường thẳng song song, chiều hướng từ thành phố Vđến thành phố H, có kích thước 5,80m x 0,35m. Từ điểm đầu vết (2) đo vào mép đường chuẩn là 6,0m, từ vị trí điểm cuối của vết (2) đo vào mép đường chuẩn là 5,70m.
Từ vị trí điểm đầu vết (2) đo đến điểm đầu vết trượt lốp thứ hai là 3,20 mét, vết trượt lốp thứ hai được ký hiệu số (3) trên sơ đồ hiện trường. Vết (3) nằm trên làn đường dành cho xe cơ giới ngoài cùng (làn thứ 2) có màu đen dạng đường thẳng song song, chiều hướng từ thành phố Vđến thành phố H, có kích thước 2,90m x 0,35m. Từ điểm đầu vết (3) đo vào mép đường chuẩn là 7,40m, từ vị trí điểm cuối vết (3) đo vào mép đường chuẩn là 7,20m.
Từ vị trí cuối vết (3) đo đến điểm tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô biển kiểm soát 38B-009.57 là 2,10m, xe ô tô biển kiểm soát 38B-009.57 được ký hiệu số (4) trên sơ đồ hiện trường. Xe (4) là loại xe Bus chở khách trong trạng thái đậu nằm trên cả 02 làn đường dành cho xe cơ giới. Đầu xe hướng về thành phố H, đuôi xe hướng về thành phố Vinh. Từ tâm trục bánh sau, bên phải xe ô tô (4) đo vào
3
mép đường chuẩn là 5,30 mét; Từ vị trí tâm trục bánh trước, bên phải xe ô tô (4) đo vào mép đường chuẩn là 5,06 mét.
Từ tâm trục bánh xe phía trước, bên phải xe ô tô (4) đến tâm trục bánh sau xe đạp là 4,50mét. Xe đạp được ký hiệu số (5) trên sơ đồ hiện trường. Xe đạp (5) nằm ngã nghiêng sang phía bên trái trên vạch sơn kẻ đường dành cho người đi bộ sang ngang thuộc làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất, đầu xe đạp hướng thành phố H đuôi xe đạp hướng thành phố Vinh. Xe đạp (5) mang nhãn hiệu TRINWF màu đen. Từ tâm trục bánh sau xe đạp (5) đo vào mép đường chuẩn là 5,60 mét.
Từ tâm trục bánh sau xe đạp (5) đo đến tâm vết máu là 0,75m, vết máu được ký hiệu số (6) trên sơ đồ hiện trường. Vết máu (6) nằm trên vạch sơn kẻ đường dành cho người đi bộ sang ngang thuộc làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất, có dạng màu đỏ còn tươi, không rõ hình dạng có kích thước 0,52m x 0,30m, từ tâm vết máu đo vào mép đường chuẩn là 4,30 mét.
Tại hiện trường ghi nhận tại mép đường nhựa phía bên phải đường Quốc lộ IA chiều đi từ thành phố Vđến thành phố H, có biển báo hiệu giao thông cụ thể: Cách điểm mốc về thành phố V28,60m là biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên về phía bên phải; Cách biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên phía bên phải về phía thành phố Vcó biển chỉ dẫn quay đầu xe 12,50m; Cách điểm mốc về phía thành phố H 19,30m có biển chỉ dẫn người đi bộ sang ngang.
Căn cứ vào dữ liệu được trích xuất từ camera được gắn tại cổng chính của Nhà máy bê tông Viết Hải chiếu ra đường Quốc lộ IA nơi xảy ra vụ tai nạn, căn cứ dấu vết trên hiện trường, xác định: Điểm va chạm giữa 2 phương tiện và dấu vết cày xước do xe đạp cháu Võ Tá Đ điều khiển không phù hợp với dấu vết cày xước đoạn thứ nhất của dấu vết cày xước (1) trên hiện trường, có kích thước (4,0 x 0,01) mét. Điểm va chạm và dấu vết cày xước đoạn thứ hai của dấu vết cày xước (1) trên hiện trường có kích thước (7,4 x0,02) mét phù hợp với hình ảnh camera ghi lại vụ tai nạn giao thông, phù hợp với dấu vết cày xước hình thành do xe đạp ngã xuống mặt đường. Ngoài ra, đoạn cày xước thứ nhất, của dấu vết cày xước (1) cách đoạn cày xước thứ hai của dấu vết cày xước (1) là 3,5 mét, có đặc điểm mờ, không rõ nét so với đoạn cày xước thứ hai. Vì vậy, có căn cứ xác định đoạn cày xước thứ nhất của dấu vết cày xước (1) trên hiện trường được hình thành không liên quan đến vụ tai nạn giao thông nói trên, không phải do dấu vết xe đạp cháu Đ điều khiển ngã xuống mặt đường hình thành.
* Biên bản khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 38B-009.57 vào lúc 14h35p ngày 03/12/2020 phản ánh:
Phần kim loại phía trước bên phải đầu xe (dưới kính chắn gió phía trước) có dấu vết móp lõm biến dạng theo chiều hướng từ trước ra sau, mặt ngoài bị bong tróc sơn kích thước 70cm x 50cm, tâm vết lõm cách thành xe phía bên phải 70cm. Tại vị trí bên phải ba đờ xốc phía trước có dính vật chất màu xám, dạng trầy trượt kích thước 16cm x 3cm, vị trí thấp nhất của vết cách mặt đất 53,5cm, tâm vết cách thành xe phía bên phải 65cm. Mặt dưới bên phải ba đờ xốc phía trước có dấu vết
4
trầy trượt sơn và dính chất bẩn màu đen cách mặt đất 35cm, tâm vết cách thành xe phía bên phải 63cm. Mặt dưới bên trái ba đờ xốc phía trước có dấu vết bong tróc sơn, cách thành xe phía bên trái 87cm. Mặt trước ba đờ xốc bên trái trước đầu xe có dính nhiều chất bẩn màu đen kích thước 18cm x 3,5cm, tâm vết cách thành xe phía bên trái 65cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 48,5cm. Tại vị trí bên phải của biển số xe phía trước bị cong vênh theo chiều hướng từ trước ra sau có dấu vết trầy trượt sơn, vị trí thấp nhất cách mặt đất 50cm. Hệ thống lái, hệ thống phanh, hệ thống đèn, còi, gương, gạt mưa, đồng hồ còn hiệu lực.
* Biên bản khám nghiệm xe đạp vào lúc 13h40p ngày 02/12/2020 phản ánh:
Tại vị trí mép bên ngoài của tay cầm phía bên phải bị trầy trượt nhựa; Chắn bùn của bánh xe phía trước bị cong vênh xô lệch từ phải sang trái; Bàn đạp phía bên phải bị gãy, cong vênh theo chiều hướng từ phải sang trái, từ dưới lên trên, mặt ngoài có dính sơn đỏ, tại vị trí mặt dưới bàn đạp cách mặt đất 53,5cm; Càng kim loại định vị bàn đạp phía bên phải bị cong vênh từ phải sang trái mặt ngoài có dính màu sơn đỏ tại vị trí điểm thấp nhất của vết sơn cách mặt đất 35cm; Phần kim loại bảo vệ bánh răng (líp xe) phía trước bên phải bị cong vênh biến dạng chiều hướng từ phải sang trái; Chắn bùn bánh xe phía sau bị cong vênh xô lệch theo hướng từ phải sang trái; Bánh xe phía sau bị cong vênh biến dạng bị mắc kẹt không thể chuyển động; Tại vị trí mặt ngoài ốc định vị trục bánh xe phía sau bên phải và mặt ngoài ốc định vị phanh phía sau bên phải có dính dấu vết sơn màu đỏ, tại ốc định vị của bánh xe cách mặt đất 35cm; Dàn đèo người ngồi phía sau bị cong vênh theo hướng từ phải sang trái; Mặt lốp bên phải của bánh xe phía sau có dấu vết trầy trượt cao su dính sơn màu đỏ kích thước 12cm x 3,5cm vị trí thấp nhất của vết cách mặt đất 48,5cm; Mặt ngoài tay cầm phía bên trái bị cà xước nhựa; Mặt ngoài bàn đạp phía bên trái bị mài mòn cà xước nhựa; Tại vị trí góc phía sau bên trái của dàn đèo có vết cà xước kim loại kích thước 3,5cm x 0,80cm.
* Biên bản khám nghiệm tử thi cháu Võ Tá Đ vào lúc10h,ngày 03/12/2020 phản ánh:
Tử thi được xác định là cháu Võ Tá Đ, sinh năm 2009; trú tại Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vùng chẩm sau bên phải sưng nề, bầm tụ máu kích thước (6cm x 5cm); Mặt ngoài bàn tray trái có vết thương đã đóng vảy; Vùng thắt lưng trái có đám xây xát kích thước 10cm x 15cm); Mặt trước hai đầu gối có một số vết xây xước da; Vùng thái dương bên phải có vết phẩu thuật hình cung dài 22cm được khâu 18 mũi chỉ, xương hộp sọ bị khuyết (10cm x 13cm) do phẫu thuật; Tụ máu dưới da đầu vùng chẩm; Vỡ xương hộp sọ.
* Kết luận giám định pháp y tử thi số 233/PC09, ngày 04/12/2020, của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Nguyên nhân chết của cháu Võ Tá Đ là do chấn thương sọ não.
* Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 xe ô tô biển kiểm soát 38B-009.57, nhãn hiệu COUNTY, loại xe ô tô khách, số loại HD B40, màu trắng vàng đỏ, số khung MH4DFA005005, số máy
5
D4DDEJ583878, đã qua sử dụng. Cùng với một số giấy tờ liên quan gồm 01 bản sao giấy đăng ký xe ô tô, số 010005, biển đăng ký 38B-009.57, mang tên chủ xe: C.ty CPVT ô tô Hà Tĩnh (kèm theo giấy biên nhận giữ bản chính do đang thế chấp); 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật số KD 3498492, biển đăng ký 38B-009.57; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của Công ty CPVT ô tô Hà Tĩnh, biển đăng ký 38B-009.57.
- 01 xe đạp nhãn hiệu “TRINWF”, màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 giấy phép lái xe hạng E, mang tên Phan Văn C;
Đến ngày 29/12/2020, xét thấy không ảnh hưởng đến công tác điều tra, truy tố, xét xử nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại số tài sản trên cho đại diện hợp pháp của chủ sở hữu. Còn 01 giấy phép lái xe hạng E mang tên Phan Văn C được chuyển theo hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Phan Văn C đã phối hợp với Công ty cổ phần vận tải ô tô H thỏa thuận bồi thường cho gia đình nạn nhân Võ Tá Đ số tiền 250.000.000 đồng để lo mai táng phí và các phí tổn khác (trong đó, Phan Văn C bồi thường số tiền 220.000.000 đồng, Công ty cổ phần vận tải ô tô H bồi thường 30.000.000 đồng). Hiện nay, đại diện gia đình bị hại là anh Võ Tá T không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với hư hỏng của xe ô tô buýt và xe đạp thì đại diện hợp pháp của các chủ sở hữu đều không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Với hành vi trên, tại cáo trạng số 03/CT-VKSTH, ngày 13 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Phan Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1, Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Phan Văn C từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 260 BLHS cấm bị cáo hành nghề lái xe từ 01 đến 02 năm; tạm giữ giấy phép lái xe của bị cáo trong thời gian cấm hành nghề.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.
- Đại diện hợp pháp của người bị hại trình bày: Hậu quả tai nạn xảy ra là không ai mong muốn; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã thực sự ăn năn hối cãi, thường xuyên quan tâm chia sẽ nỗi đau, mất mát đối với gia đình bị hại; bị cáo là trụ cột trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, đồng thời xem xét miễn hình phạt bổ sung cấm hành nghề đối với bị cáo.
6
- Đại diện hợp pháp của Công ty cổ phần vận tải ô tô H cho rằng quá trình hợp đồng lái xe cho công ty, bị cáo là một lái xe có chuyên môn tốt, tính tình hiền lành, thường xuyên giúp đỡ mọi người; vụ việc tai nạn xảy ra là điều không may. Do đó đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đồng thời không áp dụng hình phạt cấm hành nghề đối với bị cáo vì hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, cho bị cáo cơ hội tiếp tục đi làm để nuôi sống gia đình, vợ con còn nhỏ.
- Trình bày lời nói sau cùng bị cáo Phan Văn C cho rằng đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình đã để lại hậu quả nặng nề cho gia đình bị hại nên bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tuy nhiên, hoàn cảnh bị cáo hiện tại rất khó khăn, vợ không có việc làm, bị cáo là trụ cột trong gia đình phải chăm sóc, nuôi dưỡng các con còn nhỏ dại; ngoài nghề lái xe bị cáo không còn nghề nghiệp nào khác để tạo ra thu nhập nên đề nghị HĐXX xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo để bị cáo có điều kiện tiếp tục đi làm nuôi vợ con, trả nợ ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì. Vì vậy quyết định và hành vi của cơ quan và những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 18 giờ 38 phút ngày 01/12/2020, Phan Văn C có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, đã điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 38B-009.57, đi trên tuyến đường Quốc lộ IA hướng từ thành phố Vđi thành phố H. Khi đi đến ngã tư (Km502+710) thuộc địa phận Thôn T, xã V, huyện H, do không chấp hành hệ thống biển báo hiệu giao thông, không làm chủ tốc độ đã gây tai nạn với người đi xe đạp là cháu Võ Tá Đ, sinh năm 2009, trú tại Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển. Hậu quả làm cháu Võ Tá Đ bị thương nặng dẫn đến tử vong. Căn cứ biên bản hiện trường tai nạn, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa cho thấy nguyên nhân chính để xảy ra tai nạn trước hết thuộc về bị cáo đã không chấp hành nghiêm hệ thống biển báo hiệu giao thông đường bộ (biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên; biển báo nguy hiểm với đường người đi bộ cắt ngang…); điều khiển xe ô tô trong điều kiện trời tối, mưa phùn, tầm nhìn bị hạn chế nhưng không giảm tốc độ khi đi vào khu vực ngã tư giao nhau với đường không ưu tiên; đã vi phạm quy định khoản 1 Điều 9,
7
khoản 1, khoản 4 Điều 11 của Luật Giao thông đường bộ; Khoản 1, 2, 11 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về “các trường hợp phải giảm tốc độ”. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Phan Văn C về tội “Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Ngoài ra, nguyên nhân tai nạn cũng có một phần lỗi của người bị hại, khi điều khiển xe đạp đi từ đường liên thôn để qua ngã tư đã không chú ý quan sát, không nhường đường cho các phương tiện đi trên đường ưu tiên phía bên phải đang đi tới để đảm bảo an toàn khi di chuyển qua nơi giao nhau giữa đường ưu tiên và đường không ưu tiên, vi phạm quy định tại khoản 3, Điều 24 – Luật Giao thông đường bộ về “Nhường đường tại nơi đường giao nhau”.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; sau khi tai nạn xảy ra đã tích cực bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả nên được hưởng các tình tiêt giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo còn có mẹ đẻ được Chủ tịch nước tặng thưởng huân chương kháng C hạng nhất; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên cũng cần xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 BLHS.
Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: hành vi phạm tội của bị cáo Phan Văn C là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác – khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, cần phải xử lý nghiêm để bị cáo thấy được lỗi lầm và giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thể hiện trách nhiệm bồi thường để chia sẽ nỗi đau, mất mát cho gia đình bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp của người bị hại tha thiết đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo; hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện tại cũng rất khó khăn, là trụ cột trong gia đình còn phải nuôi 02 con đang tuổi ăn học, vợ không có việc làm; nguyên nhân tai nạn cũng có một phần lỗi của bị hại. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, từ trước đến nay chưa vi phạm pháp luật lần nào nên không cần thiết cách ly ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giáo dục cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật thì ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, ngoài nghề nghiệp chính là lái xe thì
8
bị cáo không còn nghề nghiệp nào khác để tạo ra thu nhập nuôi sống gia đình; tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận xong về bồi thường dân sự, nay không có yêu cầu gì thêm nên hội đồng xét xử miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Các vật chứng gồm 01 xe ô tô khách biển kiểm soát 38B-009.57, nhãn hiệu COUNTY, (loại xe ô tô khách, số loại HD B40, màu trắng vàng đỏ, số khung MH4DFA005005, số máy D4DDEJ583878) và 01 xe đạp nhãn hiệu “TRINWF”, màu đen đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H xử lý trong quá trình điều tra, đảm bảo đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Còn 01 giấy phép lái xe hạng E mang tên Phan Văn C cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn C mức án 18(Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36(Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.(27/01/2021)
Giao bị cáo Phan Văn C cho Uỷ ban nhân dân phường Trần P, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
9
3. Về xử lý vật chứng, giấy tờ: Trả lại Giấy phép lái xe ô tô hạng E mang tên Phan Văn C cho bị cáo.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn C phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm;
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:
| - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Chi cục THA dân sự huyện H; - Thi hành án hình sự; - UBND phường Trần P, TP. Hà Tĩnh; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu Hồ sơ; VT. 10 | TM. héi ®ång xÐt xö THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Nhân |