- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Đức T về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 397/2019/HSPT Ngày: 26-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trần Minh Tuấn
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tào
Ông Nguyễn Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Ân, Kiểm sát viên.
Vào ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 372/2019/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2019 đối vớ
Lê Đức T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do có kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HS-ST ngày 26/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1542/2019/QĐXXPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019.
* Bị cáo có kháng cáo:
Lê Đức T, sinh ngày: 20/10/1983 tại tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn V, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Lê Thị D. Bị cáo có vợ là Đặng Thị Mỹ L và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2018 cho đến nay. Có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác
Người đại diện hợp pháp cho bị hại Lương Ngọc M (đã chết): Ông Lương Ngọc Q, sinh năm 1984; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 là cha, mẹ bị hại.
Địa chỉ: tỉnh Gia Lai. Đều vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Q, bà H: luật sư M và luật sư L – Công ty Luật TNHH MTV F. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lương Ngọc Đ – sinh năm 1979
Địa chỉ: tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1975;
Địa chỉ: tỉnh Gia Lai. Có mặt.
3. Bà Phạm Thị A, sinh năm 1975;
Địa chỉ: tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông H, bà A: Ông Huỳnh Văn K, Luật sư văn phòng luật sư H, Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
4. Bà Đặng Thị Mỹ L, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Thôn V, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
5. Ngân hàng thương mại cổ phần X Việt Nam, chi chánh P, Gia Lai.
Địa chỉ: thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 20/7/2018, anh Nguyễn Văn H (sinh năm 1975; trú tại M) là chủ xe khách HA chạy tuyến từ K, huyện M đi thành phố B hợp đồng miệng với Lê Đức T về việc thuê T điều khiển chiếc xe ô tô nhãn hiệu Fortransit biển kiểm soát 81B-008.98 để chở khách với tiền công 10.000.000 đồng/tháng. Đến tháng 9/2018, anh Lương Ngọc Đ (sinh năm 1979; trú xã K, huyện M) mua xe ô tô nhãn hiệu HuynDai 29 chỗ ngồi, biển kiểm soát 81B-016.58 lấy tên Đ, chạy cùng tuyến đường K, M đi thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Do tranh giành khách nên giữa hai nhà xe HA và Đ xảy ra mâu thuẫn, khiêu khích nhau.
Vào tối ngày 08/9/2018, Lê Đức T và một người khách đi trên xe tên Sơn (không xác định được tên tuổi và địa chỉ) cùng sử dụng ma túy đá tại phòng trọ của nhà xe HA ở xã K, huyện M. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 10/9/2018, Lê Đức T một mình điều khiển xe ô tô Ford Transit, biển kiểm soát 81B - 008.98 xuất phát từ xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai đón khách đi Thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Khi đi đến gần ngã ba thuộc xã Đ, huyện M thì xảy ra va quẹt nhẹ với xe ô tô Mazda BT50 biển kiểm soát 43C-059.99 do anh Lương Ngọc Đ điều khiển chạy hướng ngược chiều. Sau va quẹt, cả hai người điều khiển xe ô tô không dừng lại để giải quyết mà điều khiển xe bỏ đi. Biết xe ô tô Ford Transit trên là xe khách của nhà xe HA nên anh Đ điện thoại cho chị Lương Thị T (là em gái của anh Đ) biết. Sau đó, chị T gọi điện thoại cho anh Lương Ngọc Q (em trai của anh Đ) thì cháu Lương Ngọc M (sinh năm 2006, con trai của Anh Q) nghe máy và kể lại sự việc trên cho Anh Q nghe. Sau đó, anh Lương Ngọc Q dắt xe mô tô biển kiểm soát 81E1 - 058.98 mục đích đi đến chỗ anh Đ xem sự việc thế nào thì Lương Ngọc M ngồi lên sau xe xin đi theo, khi đi Minh cầm theo một đoạn gậy gỗ. Anh Q điều khiển xe chở cháu M đi theo đường liên xã hướng đi xã Đ.
Khoảng 05 giờ 45 phút cùng ngày 10/9/2018, Lê Đức T điều khiển xe ô tô 81B-008.98 đi đến đoạn đường km 14 -22,5m, đường liên xã thuộchuyện M, tỉnh Gia Lai thì phát hiện thấy anh Lương Ngọc Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81E1 - 058.98 chở cháu Lương Ngọc M đi ngược chiều tới, cách khoảng 50m. Cùng thời điểm này có anh Lê Văn H gọi 02 cuộc điện thoại đến số 0976638456 của nhà xe HA do T sử dụng hẹn đón khách tại Nông trường K 2 (cuộc thứ nhất lúc 05giờ 49 phút 03 giây với thời lượng 11 giây; cuộc gọi thứ 2 lúc 05 giờ 49 phút 45 giây với thời lượng 20 giây). Khi xe ô tô do T điều khiển và xe mô tô do Anh Q điều khiển cách nhau khoảng hơn 10m, Lê Đức T cho rằng người điều khiển xe mô tô sẽ tránh về bên phải đường nên T không giảm tốc độ, nhường đường cho xe đi ngược chiều mà vẫn giữ nguyên tốc độ khoảng 70km/h và chỉ giành một phần đường khoảng 1m cho xe ngược chiều, dẫn tới xe ô tô đâm vào xe mô tô do Anh Q điều khiển. Khi xảy ra va chạm, Lê Đức T không kịp sử dụng phanh nên xe ô tô đẩy xe mô tô và cháu M đi ngược lại hơn 16m thì xe mô tô và cháu M bị đẩy qua bên trái đường, còn xe ô tô tiếp tục di chuyển khoảng 35m mới dừng lại trên đường.
Sau khi dừng xe, Lê Đức T kéo phanh tay, thấy Anh Q cầm gậy gỗ chạy đến nên để xe ô tô đang nổ máy tại hiện trường, mở cửa xe cầm theo môt đoạn tuýp sắt rồi bỏ chạy vào vườn cây bời lời trốn. Trên đường bỏ chạy, T gọi điện thoại cho báo cho chủ xe HA biết vụ tai nạn để báo Công an huyện M giải quyết và gọi điện cho anh Hồ Đắc H (là cậu họ bên phía vợ của T) nhờ đưa đến Công an huyện C để đầu thú. Đến 13 giờ ngày 11/9/2018, Lê Đức T được đưa đến Công an huyện M lập biên bản đầu thú và khai báo sự việc.
Kết quả test kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy đối với mẫu nước tiểu của Lê Đức T xác định dương tính với methaphetamine (ma túy đá).
Còn cháu Lương Ngọc M bị thương nặng được đưa đến Bệnh viện Đại học y dược Hoàng Anh Gia Lai cấp cứu thì chết.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, truy tìm vật chứng vụ án.
Khám nghiệm hiện trường xác định:
Hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại Kml4-22,5m đường liên xã thuộc huyện M. Mặt đường trải nhựa rộng 3,8m, lề đường mỗi bên rộng 2,3m. Tại Hiện trường phát hiện các dấu vết, đồ vật, phương tiện theo hướng Đ đi xã A, cụ thể:
Lề đường bên trái phát hiện xe mô tô 81E1-058.98 nhãn hiệu Wave bị hư hỏng nặng, nằm ngã nghiêng bên trái, đầu xe hướng về xã Đ, đuôi xe hướng về xã A. Trục bành xe trước nằm trên mép đường, cách trụ Km14 là 37,6m; trục bánh sau nằm trong lề đường, cách mép đường 0,32m.
Xe ô tô biển kiểm soát 81B-008.98 hiệu Ford Transit, đầu xe quay về hướng A, phía trước đầu xe bên trái bị móp méo vào trong. Trục sau bên trái xe ô tô cách trục sau xe mô tô 81E1-058.98 là 35,25m, cách mép đường bên trái 1,1m; trục bánh xe ô tô trước cách mép đường trái 0,9m.
Trên mặt đường nhựa bên trái phát hiện 02 vết cày và vết chà lốp xe màu đen song song nhau, vết chà lốp dài 16,48m, nơi rộng nhất 9,5cm; đầu vết chà lốp xe cách trụ Km 14 là 22,5cm, cách mép đường bên trái 1,8m; đuôi vết chà lốp nằm ngay bánh trước xe mô tô 81E1-058.98. Cách đầu vết chà lốp màu đen 0,8m là vết cày dài 15,7m, nơi rộng nhất 4,5cm; đầu vết cày cách mép đường bên trái 2,06m; đuôi vết cày nằm ngay bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 81 EL058.98.
Cách trục bánh sau xe mô tô 8,5m về hướng xã A phát hiện đám chất màu nâu nghi máu (M1)kích thước (0,8 X 0,4)m, tâm vết cách mép đường bên trái 1,9m. Cách (M1) 1,5m là (M2) kích thước (2,1 X 0,78)m, tâm vết cách mép đường trái 1,05m, cách trục sau bên phải xe ô tô 81B-008.98 là 25,9m.
Tại Bản kết luận giám định số 34/KLGĐ ngày 10/12/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: Chất màu nâu nghi máu thu tại hiện trường là máu người, nhóm máu o, cùng nhóm máu với nạn nhân Lương Ngọc M.
Khám nghiệm tử thi Lương Ngọc M, xác định:
Toàn thân có nhiều vết xây xát da.
Giải phẫu vùng đầu thấy: Mô cơ dưới da vùng đỉnh trái, đỉnh phải, thái dương phải, chẩm, thái dương trái bầm tụ máu. Vùng thái dương phải xương sọ bị nứt, lún trong diện (8x6)cm, sụp lún l,5cm, đường nứt kéo dài đến vùng chẩm phải 10cm, hở 0,6cm. Vỡ sàn sọ phải, thùy trán trái dập tụ máu trong diện (6x5,5)cm. Thùy đỉnh phải tụ máu diện (4x5)cm. Xuất huyết dưới nhện tiểu não. Dấu hiệu tụt hạnh nhân tiểu não. Tụ máu quanh cuống não;
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 518/GĐPY ngày 08/10/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận Lương Ngọc M chết do “Chấn thương sọ não”.
Kết quả khám nghiệm phương tiện
Đối với xe ô tô 81B - 008.98, xác định:
Cản trước xe bị móp méo, gãy vỡ nhựa, lún sau vào trong diện (85x37)cm, chỗ lún sâu nhất 10cm ở vị trí dưới cùng, cách cạnh ngoài bên trái xe 50cm, cách mặt đất 38cm, có dính chất màu nâu, bong tróc lớp son xe. Phần khung kim loại bên trái cản bị cong vênh gập đẩy vào trong so với vị trí ban đầu 7cm. Gác để chân bên trái phía dưới két nước Turbo trầy xước kim loại, lún sâu vào trong diện (9x6)cm, chỗ lún sâu nhất 0,5cm. Ốp nhựa lọc gió trước két nước bị gãy rời phần khung tại góc bên trái phía dưới. Nắp capo có vết móp méo, lún sâu vào trong diện (34x39)cm, chỗ lún sâu nhất 0,3cm tại vị trí giữa nắp capo.
Đối với xe mô tô 81E1-058.98, xác định:
Ốp nhựa, mặt đồng hồ, đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu trước, mặt nạ xe bị vỡ nát rời khỏi vị lắp ráp, gương chiếu hậu bên trái chỉ còn phần gọng, gương chiếu hậu bên phải không có. Phần bọc nhựa ô khóa điện bị vỡ mất. cần lái bị cong vênh, gập về phía bên trái, trong đó: cần lái bên phải cong gập về phía sau gần song song với trục xe, cần lái bên trái bị mài mòn, cong gập qua phải. Lốp cao su bánh trước bị vỡ, vành bãnh xe bị cong vênh, chắn bùn bánh trước bị vỡ rơi mất. Bộ lọc gió bị trầy xước mài mòn diện (20x0,4)cm. Khung kim loại bảo vệ lốc máy cong vênh. Mặt ngoài phía trước lôc máy bên trái bị trây xước, mài mòn diện (8x5)cm. Gác chân trước bên trái, chân chống nghiêng bên trái bị gãy rời khỏi vị trí lắp ráp, cần số bị cong gập vào trong. Mặt dưới lốc máy bị nứt hở kích thước (4x0,l)cm. Gác để chân sau bên trái bị gãy l/3 sau, rời khỏi vị trí lắp ráp. Mặt ngoài khung nâng xe bên trái có vết mài mòn diện (42x7)cm. Lốp xe phía sau bị mài mòn cao su diện (51 x6)cm. Chân phanh và cần khởi động bị cong gập. Yên xe bị bung ra khỏi vị trí lắp ráp, trầy xước mài mòn diện (42 x7)cm.
Tại kết luận giám định tư pháp ngày 26/10/2018, Giám định viên Sở giao thông vận tải tỉnh Gia Lai kết luận:
Xe ô tô biển số 8 IB - 008.98 tại thời điểm giám định các hệ thống, tổng thành hoạt động bình thường, không phát hiện hư hỏng, đảm bảo an toàn kỹ thuật (trừ những chi tiết hư hỏng đã được mô tả tại biên bản khám nghiệm ngày 22/9/2018).
Xe mô tô 81E1-058.98 tại thời điểm giám định xe bị hư hỏng nặng, biến dạng không xác định được tình trạng kỹ thuật.
Tại Kết luận định giá tài sản số 10/HĐĐG-KL ngày 28/H/2018, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự tỉnh Gia Lai kết luận:
Xe ô tô nhãn hiệu Ford, số loại Transit JX6582T-M3, biển kiểm soát 81B- 008.98 bị thiệt hại do hư hỏng là 30.059.700đồng.
Xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave @, biển kiểm soát 81E1-058.98 bị thiệt hại do hư hỏng là 5.620.000đồng.
Tại Công văn số 1367/SGTVT-QLPT&NL ngày 08/7/2019, Sở Giao thông vận tải tỉnh Gia Lai, trả lời: Căn cứ tại Quy chuẩn kỹ thuật Quốc Gia về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với ô tô (QCVN 09:20l5/BGTVT ban hành kèm theo Thông tư số 87/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải). Cụ thể với xe ô tô có biển đãng ký 81B-008.98 (loại phương tiện ô tô khách sản xuất năm 2014, khối lượng toàn bộ phương tiện:3.730kg) khi thử xe trên mặt đường phủ nhựa hoặc đường bê tông bằng phẳng và khô, hệ số bám ọ không nhỏ hơn 0,6 phải đảm bảo thông sổ sau:
- Hiệu quả phanh chính khi thử xe không tải: vận tốc ban đầu khi phanh 30km/h, quãng đường phanh < 9m (kể từ khi đạp mạnh vào bàn đạp phanh đến khi xe dừng hẳn).
- Hiệu quả phanh chính khi thử xe đầy tải: vận tốc ban đầu khi phanh 30km/h, quãng đường phanh < 10m (kể từ khi đạp mạnh vào bàn đạp phanh đến khi xe dừng hẳn).
Tại bản cáo trạng số: 48/CT-VKS-P2 ngày 01/8/2019, VKSND tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Đức T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS.
12/2019/HS-ST ngày 26/9/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai
Căn cứ vào Điều 326; Điều 327 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm b khoản 2; khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS: Tuyên phạt bị cáo Lê Đức T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10.9.2018.
Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 04 năm, kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù.
2. Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị A phải bồi thường cho ông Lương Ngọc Q, bà Nguyễn Thị H tiền chi phí cấp cứu; chi phí mai táng và tổn thất tinh thần với tổng số tiền 173.720.000 đồng. Đã bồi thường 90.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường 83.720.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02 tháng 10 năm 2019 bị cáo Lê Đức T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 07 tháng 10 năm 2019 đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Lương Ngọc Q kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm tuyên xử bị cáo Lê Đức T và đồng phạm là ông Nguyễn Văn H về tội “Giết người”; tăng mức án tù giam cho bị cáo Lê Đức T và tăng mức bồi thường.
Ngày 10 tháng 10 năm 2019 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị A và ông Nguyễn Văn H kháng cáo yêu cầu tuyên trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Fortransit biển kiểm sát 81B1-008.98 cho ông H, bà A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Đức T rút kháng cáo yêu cầu giảm hình phạt, căn cứ Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Đức T.
Gia đình người bị hại có đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do bị bệnh, nhưng không xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh. Các luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho gia đình người bị hại có đơn xin hoãn phiên tòa vì chưa nghiên cứu hồ sơ là không chính đáng. Căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có quan điểm kháng cáo của gia đình người bị hại là không có cơ sở, các tài liệu, chứng cứ thu thập được tại hồ sơ vụ án không chứng minh được bị cáo phạm tội “Giết người”, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của gia đình người bị hại.
. Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Lê Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khi nghe con trai nói lại việc anh trai là Lương Ngọc Đ bị xe ô tô HA va quẹt thì Lương Ngọc Q đã điều khiển xe mô tô BKS 81E1-058.98, chở con trai là cháu Lương Ngọc M đi từ nhà đến đoạn đường thuộc Km 14-22,5m, đường liên xã thuộc huyện M, tỉnh Gia Lai thì phát hiện xe ô tô BKS 81B-008.98 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn H, do Lê Đức T điều khiến đang đi phía trước ngược chiều. Lúc này Anh Q biết rõ bị cáo T đang điều khiển xe lưu thông với tốc độ nhanh, nhưng vẫn thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô đi giữa đường nhằm mục đích buộc bị cáo T phải dừng xe lại trong tình huống rất nguy hiểm dễ dẫn đến xảy ra tai nạn. Khi xe ô tô của bị cáo T đã đến gần nhưng không có dấu hiệu giảm tốc độ, Anh Q không điều khiển xe để tránh mà nhảy ra khỏi xe mô tô, trong khi cháu M vẫn còn ngồi trên xe dẫn đến việc xe ô tô bị cáo T điều khiển đâm vào xe mô tô của Anh Q, hậu quả làm cháu Lương Ngọc M bị tử vong.
. Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Đức T là rất nghiêm trọng, bị cáo điều khiển xe chạy với tốc độ nhanh trong khi đã sử dụng ma túy, khi quan sát phía trước, thấy có xe mô tô ngược chiều lưu thông ở giữa đường, lẽ ra bị cáo phải giảm tốc độ xe để tránh nhưng vì phán đoán xe mô tô sẽ chủ động tránh xe ô tô của bị cáo, nên bị cáo không giảm tốc độ, không kéo còi mà tiếp tục giữ nguyên tốc độ khoảng 70km/h về hướng lưu thông. Đồng thời, bị cáo vừa điều khiển xe vừa nghe điện thoại đi động nên không chú ý quan sát, mất tập trung dẫn đến việc bị cáo không xử lý kịp tình huống nên đã gây hậu quả rất nghiêm trọng.
Với hành vi phạm tội như trên, Tòa án cấp sơ thẩm kết tội bị cáo Lê Đức T “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của đại diện hợp pháp người bị hại ông Lương Ngọc Q, thấy:
- Về tội danh: Đại diện hợp pháp cho người bị hại đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự bị cáo Lê Đức T về tội “Giết người” chứ không phải là tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như Viện kiểm sát đã truy tố; vì cho rằng bị cáo có hành vi điều khiển xe ô tô chạy tốc độ nhanh, không đánh lái để tránh khi phát hiện ông chở cháu M đang ở phía trước và sau khi xảy ra va chạm, bị cáo dùng dao đi về phía ông đang bế cháu M nên ý thức của bị cáo T là muốn truy sát ông. Tuy nhiên, căn cứ vào hành vi khách quan, lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, HĐXX cấp phúc thẩm có đủ cơ sở để khẳng định, bị cáo Lê Đức T gây ra tai nạn là xuất phát từ việc điều khiển xe ô tô tham gia giao thông trong tình trạng đã sử dụng ma túy, không tuân thủ đúng các quy định về an toàn giao thông mà lẽ ra bị cáo phải thực hiện và xuất phát một phần lỗi của ông Lương Ngọc Q đã có hành vi ứng xử không chuẩn mực, tự đặt bản thân và cháu M vào tình huống nguy hiểm, khi biết rõ bị cáo điều khiển xe ô tô chạy với tốc độ nhanh nhưng vẫn chủ động điều khiển xe mô tô với ý thức chặn xe ô tô lại. Khi xe ô tô đi đến gần, ông Q vẫn không đỉều khiển xe để tránh mà nhảy ra một mình, bỏ mặc cháu M vẫn đang ngồi trên xe mô tô.
Căn cứ Sơ đồ hiện trường thể hiện vị trí xảy ra va chạm giữa hai xe, mặt đường nhựa rộng 3,8 mét nhưng từ đầu vết cày (1) do xe mô tô để lại sau va chạm cách lề đường là 2,06 mét (theo hướng lưu thông của xe mô tô). Như vậy, lời trình bày của ông Q trong quá trình điều tra là vẫn còn khoảng cách 1m bên phải để tránh xe mô tô ( Bút lục 289) là phù hợp , nên có đủ căn cứ kết luận, ông Lương Ngọc Q đã có một phần lỗi dẫn đến tai nạn. Ngoài ra, ông Q không hề biết mặt bị cáo, giữa ông Q, cháu M với bị cáo T chưa hề gặp mặt ( Bút lục 290); trong cuộc sống cả hai bên không quen biết nhau nên không có việc phát sinh mâu thuẫn hay có nguyên nhân khác dẫn đến việc bị cáo có động cơ giết người như ông Q trình bày.
Ông Q cho rằng bị cáo có hành vi giết người vì sau khi đâm xe vào con ông, bị cáo đã bỏ mặc không đưa đi cứu chữa mà còn cầm dao chạy về phía ông, bị cáo có ý định truy sát ông, làm ông phải bỏ chạy nên thể hiện ý thức bị cáo muốn giết cha con ông. Tuy nhiên, quá trình điều tra, nhân chứng là anh Đinh Yor, Nông Văn Linh luôn khẳng định nhìn thấy bị cáo bước xuống xe, cầm hung khí và chiếc áo khoác bỏ chạy vào vườn cây bời lời bên đường gần đó. Lời khai này là phù hợp với lời khai bị cáo nên không có căn cứ xác định bị cáo gây tại nạn rồi dùng dao truy sát cha con ông Q. Do vậy, không có căn cứ xem xét về tội “Giết người” đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự: Ông Lương Ngọc Q kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tuyên buộc bồi thường cho gia đình ông số tiền 173.720.000 đồng là quá thấp, chưa tính các khoản chi phí thực tế như xây mộ, xe Honda bị hư hỏng hoàn toàn không thể sửa chữa.
Xét Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc chủ sở hữu xe ô tô là ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị A phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ 173.720.000 đồng, trong đó đã bồi thường 90.000.000 đồng nay tiếp tục bồi thường 83.720.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật. Khoản yêu cầu bồi thường chi phí xây mộ, bồi thường thiệt hại xe mô tô 18.000.000 đồng mà ông Q yêu cầu là không có căn cứ. Do vậy kháng cáo của ông Q về trách nhiệm dân sự là không có cơ sở để chấp nhận.
. Xét kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị A: Ông bà kháng cáo cho rằng hiện nay ông bà đã bồi thường xong số tiền 87.620.000 đồng còn lại mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nên đề nghị Tòa án tuyên trả lại xe ô tô nhãn hiệu Fortransit biển kiểm soát 81B-008.98 cho ông bà. Theo quy định của pháp luật, thì yêu cầu này của ông bà sẽ được thực hiện sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 348; Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Đức T về phần hình phạt.
2. Không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại ông Lương Ngọc Q và của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị A giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Đức T 06 (sáu) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10-9-2018.
Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 04 (bốn) năm kể từ khi chấp hành xong hạn tù.
3. Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị A phải bồi thường cho ông Lương Ngọc Q, bà Nguyễn Thị H tiền chi phí cấp cứu; chi phí mai táng và tổn thất tinh thần với tổng số tiền 173.720.000 đồng. Đã bồi thường 90.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường 83.720.000 đồng.
4. Bị cáo Lê Đức T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; đại diện hợp pháp của người bị hại ông Lương Ngọc Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HS-ST ngày 26-9-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Gia Lai; - Phòng HSNV - Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSTHAHS - Công an tỉnh Gia Lai ; - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam CA tỉnh Gia Lai; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Minh Tuấn |