vanban.org

Quyết định 04/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 06/07/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Hà Thị T về việc tuyên bố anh Lương Văn Q mất tích.

Tuyên bố anh Lương Văn Q, sinh năm 1985, nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông mất tích. Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm: Chị Hà Thị T phải chịu 3.025.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo trên đài tiếng nói Việt Nam và đăng Báo công lý, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Hà Thị T về việc tuyên bố anh Lương Văn Q mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Số: 04/2020/QĐST-VDS
Krông Nô, ngày 06 tháng 7 năm 2020.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: “Tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Nhi.

Thư ký phiên họp: Bà Nông Thị Hường - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên họp: Nông Quốc Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2020/TLST-VDS ngày 03 tháng 01 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số 04/2020/QĐPH-DS ngày 22 tháng 6 năm 2020; Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-VDS ngày 01/7/2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Hà Thị T, sinh năm 1981 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lương Văn Q, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 09/12/2019 và bản tự khai tại Tòa án, chị Hà Thị T là người yêu cầu trình bày:

Chị Hà Thị T và anh Lương Văn Q kết hôn năm 2009 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Sau khi kết hôn chị T và anh Q có 02 con chung là Lương Hà Gia N, sinh ngày 17/12/2008 và Lương Hà Thủy T, sinh ngày 02/10/2016. Từ tháng 3 năm 2017 thì anh Q bỏ đi đâu chị T không biết, anh Q bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông cho đến nay khoảng hơn 02 năm không về chung sống cùng chị T lần nào nữa, chị T đã tìm anh Q khắp nơi nhưng cũng không xác định được anh Q đang làm gì ở đâu, mặc dù chị đã tìm kiếm nhưng không có kết quả. Vì vậy chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lương Văn Q mất tích theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, chị T giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lương Văn Q mất tích.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:

Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy đinh của pháp luật.

Về yêu cầu của chị Hà Thị T: Anh Lương Văn Q mất tích đã hơn 02 năm không có tin tức mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm, do đó đề nghị Toà án áp dụng khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 68 của Bộ luật Dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lương Văn Q mất tích.

Chị Hà Thị T phải chịu chi phí, lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm và lệ phí, chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm anh Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô nhận định:

[1.] Chị Hà Thị T và Anh Lương Văn Q kết hôn năm 2009 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Sau khi kết hôn chị T và anh Q có 02 con chung là Lương Hà Gia N, sinh ngày 17/12/2008 và Lương Hà Thủy T, sinh ngày 02/10/2016. Từ tháng 3 năm 2017 thì anh Q bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông cho đến nay không về, mặc dù chị T đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của anh Q.

[2.] Trên cơ sở yêu cầu của chị T, ngày 09/01/2020 Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 01/2020/QĐ-TA đối với anh anh Lương Văn Q được đăng trên báo Công lý nhắn tin 03 số liên tiếp ra các ngày 15,16,17 ra các ngày 21, 25, 28/02 năm 2020; thông báo nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam nhắn tin cho anh Lương Văn Q 03 lần trong các ngày 07, 08, 09/02/2020. Theo quy định tại khoản 2 Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự, đến nay đã quá 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên nhưng anh Q không trở về. Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông cũng xác nhận anh Lương Văn Q bỏ đi biệt tích khỏi địa phương từ ngày đầu tháng 3/2017 cho đến nay không có tin tức, không trở về địa phương lần nào.

Theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích”.

Do đó việc chị Hà Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Nô tuyên bố anh Lương Văn Q mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự được chấp nhận.

[3.] Chị Hà Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lương Văn Q mất tích, chị T không yêu cầu xem xét, giải quyết vấn đề nào khác nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

4.] Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm: Chị Hà Thị T phải chịu 3.025.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo trên đài tiếng nói Việt Nam và đăng Báo công lý, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 3.025.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

[5.] Về lệ phí: Chị Hà Thị T phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6.] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 371 và 372 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 389; khoản 2 Điều 385 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 68 Bộ luật Dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Hà Thị T về việc tuyên bố anh Lương Văn Q mất tích.

Tuyên bố anh Lương Văn Q, sinh năm 1985, nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông mất tích.

2.Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm: Chị Hà Thị T phải chịu 3.025.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo trên đài tiếng nói Việt Nam và đăng Báo công lý, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 3.025.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

3.Về lệ phí: Chị Hà Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí chị T đã nộp theo biên lai số 0002819, ngày 02/01/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Nô.

4.Về kháng cáo: Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014”.

Cỡ chữ