- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 36 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2020/QĐST-DS | TP. T, ngày 18 tháng 12 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Linh Nga.
Thư ký phiên họp: Bà Mai Thị Quyên - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp: Bà Hoàng Hà Vĩnh Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 05/2020/TLST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2020/QĐST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2020.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lê Đức M, sinh năm 1976 (có mặt);
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Theo đơn yêu cầu đề các ngày 16/6/2020 và 07/7/2020, bản tự khai và tại phiên họp, anh Lê Đức M trình bày:
Anh và chị Lê Thị H, sinh năm 1980; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tập thể X, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú trước khi biệt tích: Đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình tự nguyện tìm hiểu, kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 31/12/2001 tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ đẻ anh M đến tháng 4/2002 thì chuyển lên sinh sống cùng mẹ đẻ chị H tại Tập thể X, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Năm 2011, cả gia đình chuyển về thuê nhà sinh sống tại Đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Năm 2017, do vợ chồng mâu thuẫn nên anh M đã về sinh sống tại thôn tổ dân phố B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình, chị H vẫn ở cùng mẹ đẻ chị H và các con. Tháng 4/2017, chị H đã nhà bỏ đi. Kể từ đó đến nay, chị H không về, gia đình và địa phương không có thông tin chị H đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Nay anh M làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lê Thị H mất tích theo quy định của pháp luật.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến khi quyết định mở phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Tòa án căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 361, Điều 366, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389, Điều 390 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của anh Lê Đức M, tuyên bố chị Lê Thị H mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nhận định:
Về tố tụng: Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Lê Đức M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung: Xét thấy, anh Lê Đức M yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ là chị Lê Thị H mất tích. Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
…”
Qua xác minh tại Công an phường Q, và UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình, chị Lê Thị H không sinh sống tại địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Q và đã chuyển về sinh sống tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình khoảng 5-6 năm trở lại đây, từ tháng 4/2017 đến nay chị H đã bỏ đi, không có tin tức về gia đình và địa phương. Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình đã thông báo tìm kiếm chị Lê Thị H và đăng phát trên Báo Công lý 03 số liên tiếp 61, 62, 63 ra các ngày 29, 31/7/2020, ngày 05/8/2020, trên Đài Tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp vào 17h30 các ngày 30,31/7/2020, 01/8/2020, đăng trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Thái Bình từ ngày 28/7/2020 và trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao từ ngày 29/7/2020 nhưng hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên, vẫn không có tin tức của chị H. Như vậy, có đủ căn cứ xác định chị Lê Thị H đã đi biệt tích từ tháng 4/2017 và không có tin tức xác thực về việc chị H còn sống hay đã chết. Áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, cần chấp nhận yêu cầu của anh Lê Đức M, tuyên bố chị Lê Thị H mất tích.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Lê Đức M phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu anh Lê Đức M có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn luật định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 388, Điều 389, Điều 390 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Khoản 1 Điều 36 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Điều 1: Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Đức M, tuyên bố chị Lê Thị H, sinh năm 1980; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tập thể X, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú trước khi biệt tích: Đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình mất tích.
Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.
Điều 2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự
Anh Lê Đức M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh M đã nộp tạm ứng lệ phí tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004804 ngày 08/7/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thành lệ phí.
Điều 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị
Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Điều 4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Người yêu cầu; - Lưu hồ sơ việc dân sự. Thị H đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tập thể xí nghiệp may mặc, tổ 15 (tổ 26 cũ), phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Khoảng 05 – 06 năm trước, chị H và gia đình đã chuyển đi nơi khác, không còn sinh sống tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú. Kể từ thời điểm chị H và gia đình chuyển đi, địa phương không biết chị H đi đâu, làm gì, không có thông tin của chị H. Sau khi Tòa án thông báo tìm kiếm chị H trên các phương tiện thông tin đại chúng, chị H không trở về nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, không có tin tức. phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình cung cấp: Chị Lê Thị H cùng chồng, các con và mẹ đẻ chị H là bà Tô Thị Sản chuyển về sinh sống tại tổ 09 (tổ 13 cũ), phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình từ nhiều năm nay. Từ năm 2017, chị Lê Thị H đã bỏ đi khỏi địa phương không có tin tức, không trở về, không ai biết chị H đang làm gì, ở đâu. Sau khi cũng không trở về, địa phương không có thông tin của chị Lê Thị H. của chị Lê Thị H trình bày: Chị Lê Thị H là con gái bà. Năm 2001, chị H kết hôn với anh Lê Đức M, sinh năm 1976, quê quán tại xã Thụy Hà, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn được thời gian ngắn thì vợ chồng chị H, anh M về chung sống cùng bà tại tập thể xí nghiệp may mặc, tổ 15 (tổ 26 cũ), phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Năm 2014, bà và gia đình chị H về thuê nhà sinh sống tại địa chỉ số nhà 62/02, ngõ 439, đường Lương Thế Vinh, tổ 09, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Khoảng tháng 4/2017, chị H bỏ nhà đi biệt tích, không thông báo với ai. Từ khi bỏ đi đến thời điểm hiện tại, chị H không liên lạc về gia đình, gia đình bà không biết chị H đang làm gì, ở đâu, không có thông tin của chị H, không biết chị H còn sống hay đã chết. Sau khi Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đăng phát thông báo tìm kiếm chị H trên các phương tiện thông tin đại chúng, chị H cũng không trở về, gia đình không nhận được bất kỳ thông tin gì của chị H. | THẨM PHÁN (đã ký) Nguyễn Thị Linh Nga * Tại các biên bản xác minh lập ngày 15/7/2020 và 02/12/2020, Công an phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình cung cấp: Chị Lê * Tại các biên bản xác minh lập ngày 15/7/2020 và 02/12/2020, UBND Tòa án thông báo tìm kiếm chị H trên các phương tiện thông tin đại chúng, chị H * Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai tại Tòa án, bà Tô Thị Sản là mẹ đẻ |