vanban.org

Quyết định 04/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 08/06/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.

Anh Lê Đức M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh M đã nộp tạm ứng lệ phí tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004804 ngày 08/7/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thành lệ phí. Ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 36 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2020/QĐST-DSTP. T, ngày 18 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Linh Nga.

Thư ký phiên họp: Bà Mai Thị Quyên - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp: Bà Hoàng Hà Vĩnh Châm - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 05/2020/TLST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2020/QĐST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2020.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lê Đức M, sinh năm 1976 (có mặt);

Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu đề các ngày 16/6/2020 và 07/7/2020, bản tự khai và tại phiên họp, anh Lê Đức M trình bày:

Anh và chị Lê Thị H, sinh năm 1980; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tập thể X, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú trước khi biệt tích: Đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình tự nguyện tìm hiểu, kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 31/12/2001 tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ đẻ anh M đến tháng 4/2002 thì chuyển lên sinh sống cùng mẹ đẻ chị H tại Tập thể X, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Năm 2011, cả gia đình chuyển về thuê nhà sinh sống tại Đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Năm 2017, do vợ chồng mâu thuẫn nên anh M đã về sinh sống tại thôn tổ dân phố B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình, chị H vẫn ở cùng mẹ đẻ chị H và các con. Tháng 4/2017, chị H đã nhà bỏ đi. Kể từ đó đến nay, chị H không về, gia đình và địa phương không có thông tin chị H đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Nay anh M làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lê Thị H mất tích theo quy định của pháp luật.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến khi quyết định mở phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 361, Điều 366, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389, Điều 390 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của anh Lê Đức M, tuyên bố chị Lê Thị H mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nhận định:

Về tố tụng: Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Lê Đức M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung: Xét thấy, anh Lê Đức M yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ là chị Lê Thị H mất tích. Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

…”

Qua xác minh tại Công an phường Q, và UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình, chị Lê Thị H không sinh sống tại địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Q và đã chuyển về sinh sống tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình khoảng 5-6 năm trở lại đây, từ tháng 4/2017 đến nay chị H đã bỏ đi, không có tin tức về gia đình và địa phương. Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình đã thông báo tìm kiếm chị Lê Thị H và đăng phát trên Báo Công lý 03 số liên tiếp 61, 62, 63 ra các ngày 29, 31/7/2020, ngày 05/8/2020, trên Đài Tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp vào 17h30 các ngày 30,31/7/2020, 01/8/2020, đăng trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Thái Bình từ ngày 28/7/2020 và trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao từ ngày 29/7/2020 nhưng hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên, vẫn không có tin tức của chị H. Như vậy, có đủ căn cứ xác định chị Lê Thị H đã đi biệt tích từ tháng 4/2017 và không có tin tức xác thực về việc chị H còn sống hay đã chết. Áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, cần chấp nhận yêu cầu của anh Lê Đức M, tuyên bố chị Lê Thị H mất tích.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Lê Đức M phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu anh Lê Đức M có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn luật định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 388, Điều 389, Điều 390 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Khoản 1 Điều 36 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Điều 1: Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Đức M, tuyên bố chị Lê Thị H, sinh năm 1980; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tập thể X, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú trước khi biệt tích: Đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình mất tích.

Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.

Điều 2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự

Anh Lê Đức M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh M đã nộp tạm ứng lệ phí tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004804 ngày 08/7/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thành lệ phí.

Điều 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị

Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Điều 4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ