vanban.org

Quyết định 04/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang Tuyên án 19/05/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố chị Lò Thị K, sinh năm: 1984; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Cháu Hầu Thị T được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người đại diện hợp pháp của người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Hầu Thị T- Lò Thị K"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố chị Lò Thị K, sinh năm: 1984; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2020/QĐST-DSQ, ngày 19 tháng 5 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v : Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Cao Danh Nhân

Thư ký phiên họp: Bà Anh Thị Thanh Tâm - Thẩm tra viên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên họp: Ông Hồ Lỷ Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 17 /2020/TLST-DS. ngày 23 tháng 12 năm 2019 về việc tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 04/2020/QĐST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Cháu Hầu Thị T, sinh ngày: 20/6/2005; Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt có lý do.

- Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Cháng Thị D, sinh năm: 1961; Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh hà Giang.Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Xuân Giang - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang (Có mặt);

- Người có quyền lợi liên quan (bị yêu cầu tuyên bố mất tích): Chị Lò Thị K, sinh năm: 1984; Nơi cư trú sau cùng trước khi biệt tích: Thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu đề ngày 26/10/2019 của cháu Hầu Thị T cùng các tài liệu kèm theo đơn, tại phiên họp người đại diện theo pháp luật cho người yêu cầu bà Cháng Thị D trình bày: Tôi là người giám hộ của cháu Hầu Thị T và là bà nội cháu, con trai tôi là Hầu Sào C, sinh năm: 1979 và chị Lò Thị K, sinh năm: 1984, về chung sống với nhau từ năm 2002 tại thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán địa phương, nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Hầu Thị T, sinh ngày 20/6/2005, vào tháng 6 năm 2007 con trai tôi Hầu Sào C bị tai nạn chết, đến đầu năm 2008 thì chị Lò Thị K tự ý bỏ nhà đi biệt tích đến nay không về, khi đó cháu T còn quá nhỏ bố chết, mẹ bỏ đi hiện tôi đã nuôi dưỡng cháu, gia đình tôi đã tìm kiếm chị K nhiều lần, nhưng đều không có tin tức gì và hiện đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Do vậy, cháu Hầu Thị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố mẹ cháu là Lò Thị K mất tích. Nay tôi đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của cháu T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự tham gia phiên họp phát biểu ý kiến và đề nghị Tòa án: Áp dụng Điều 47; Điều 48; Điều 52 và Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27; Điều 361 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu của cháu Hầu Thị T. Quyết định tuyên bố chị Lò Thị K mất tích theo quy định của pháp luật, để cháu Hầu Thị T được hưởng các chế độ trợ cấp theo quy định của pháp luật, để giảm bớt khó khăn, thiệt thòi cho cháu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về giải quyết việc dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm về việc giải quyết việc dân sự: Yêu cầu theo nội dung đơn của cháu Hà Thị N và ý kiến trình bày của bà Cháng Thị D người đại diện theo pháp luật về việc tuyên bố chị Lò Thị K mất tích là có căn cứ, do việc chị K tự bỏ nhà đi từ năm 2008 đến nay không có tin tức gì, mặc dù đã được gia đình và người thân đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm, Tòa án nhân dân huyện Q đã tiến hành các thủ tục thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không xác định được chị Lò Thị K hiện đang ở đâu, làm gì. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Q căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự, các Điều 369, Điều 370 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự để chấp nhận đơn yêu cầu của cháu T ra quyết định tuyên bố chị Lò Thị K mất tích. Về lệ phí Tòa án: Đề nghị miễn toàn bộ lệ phí sơ thẩm cho cháu T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người đại diện theo pháp luật, ý kiến của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Q nhận định:

Về tố tụng: Đơn yêu cầu của cháu Hầu Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lò Thị K mất tích được Tòa án nhân dân huyện Q thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung việc dân sự: Anh Hầu Sào C và chị Lò Thị K về chung sống với nhau từ năm 2002 tại thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang, nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và có 01 con chung là cháu Hầu Thị T, sinh ngày 20/6/2005, ngày 10/6/2008 anh Hầu Sào C bị tai nạn chết (có giấy khai tử của UBND xã Đ, huyện Q cấp) trong 2008 sau khi anh anh C chết chị Lò Thị K tự ý bỏ nhà đi biệt tích đến nay không về, sau khi chị K bỏ nhà đi gia đình bà Cháng Thị D đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng đến nay không có tin tức gì về chị Lò Thị K hiện đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Việc chị Kía biệt tích được cơ quan quản lý hộ khẩu công an và Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang xác nhận chị K đã đã đi khỏi nơi cư trú từ năm 2008 cho đến nay chị K không có mặt tại nơi cư trú và không có tin tức gì. Do vậy cháu Hầu Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lò Thị K mất tích

Ngày 23/12/2019 Tòa án nhân dân huyện Q đã thụ lý đơn yêu cầu của cháu Hầu Thị T về việc tuyên bố chị Lò Thị K mất tích. Ngày 23/12/2019 Tòa án nhân dân huyện Q đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là chị Lò Thị K. Thông báo tìm kiếm chị Lò Thị K đã được đăng trên Báo Công lý 03 số liên tiếp: Số 3 (1750) ngày 08/01/2020; số 4 (1751) ngày 10/01/2020; số 5 (1752) ngày 15/01/2020 và phát trên Đài tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 30 phút trong 03 ngày liên tiếp: Ngày03, 04 và 05 tháng 01 năm 2020. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông tin đầu tiên theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự, mà vẫn không có thông tin xác thực về việc chị Lò Thị K còn sống hay đã chết. Do vậy có đủ căn cứ để chấp nhận đơn yêu cầu của cháu T về việc tuyên bố chị Lò Thị K mất tích theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phí nhắn tìm chị Lò Thị K đăng trên báo Công lý và phát trên đài tiến nói Việt Nam, được Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Giang đã chi trả đủ.

Về lệ phí: Do cháu Hầu Thị T là trẻ em và có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 370 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyên bố chị Lò Thị K, sinh năm: 1984; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Cháu Hầu Thị T được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người đại diện hợp pháp của người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ