vanban.org

Quyết định 04/2020/QĐ-TA

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 22/01/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trương Duy P.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh N, địa chỉ: Ấp Tân Lợi, xã Tân H… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trương Duy P.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2020/QĐ-TAH, ngày 22 tháng 01 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH N

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà LÊ THỊ DUYÊN.

2. Thư ký phiên họp: Bà LÊ THỊ HOÀNG YẾN.

Ngày 22 tháng 01 năm 2020, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh N, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo hồ sơ thụ lý số: 06/2020/TL-VHC ngày 13 tháng 01 năm 2020 và Quyết định mở phiên họp số: 04/2020/QĐ-TA ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện H đối với:

Họ và tên: TRƢƠNG DUY P, sinh ngày 17/10/2001; giới tính: Nam; CMND số: 072201005165 được cấp ngày 13/7/2018, nơi cấp: Cục C06; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 6/12; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 08, ấp Trường G, xã Trường T, huyện H, tỉnh N, hiện nay sống lang thang không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: không có; con ông Trương Hoàng Vũ, sinh năm 1973 (chết) và bà Phạm Ngọc Hằng, sinh năm 1979.

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 118/QĐ-XPVPHC ngày 25/11/2019 của Công an xã Long Thành T, huyện H, tỉnh N phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp tiền phạt.

Hiện đang lưu trú và chữa bệnh tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh N, anh Trương Duy P có mặt tại phiên họp.

* Có sự tham gia của:

1. Đại diện hợp pháp của cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh N (Văn bản ủy quyền số: 06/GUQ-P.LĐTBXH ngày 21/01/2020):

Bà Châu P Hoa - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh N: Ông Võ Hoàng Nhân

- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 15/12/2019 anh Trương Duy P bị Công an thị trấn H, huyện H, tỉnh N mời đến trụ sở làm việc, thử nước tiểu cho kết quả dương tính với ma túy đá nên lập biên bản vi phạm hành chính. Anh P thừa nhận có sử dụng ma túy đá vào lúc khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/12/2019 tại nhà anh Tài thuộc ấp Long M, xã Long Thành B, huyện H, tỉnh N. Cùng ngày 15/12/2019 Công an thị trấn H có văn bản gửi Trạm Y tế xã Hiệp T, huyện H yêu cầu xác định người nghiện chất ma túy đối với anh P. Tại phiếu trả lời kết quả của Trạm Y tế xã Hiệp Tân ngày 15/12/2019 kết luận anh Trương Duy P là người nghiện ma túy (Methamphetamine).

Tại phiếu xác minh tình trạng cư trú ngày 15/12/2019 của Công an xã Trường T, huyện H, tỉnh N; biên bản ghi lời khai của anh P và biên bản xác minh bà Phạm Tuyết Trinh là bà ngoại của anh P thể hiện: anh Trương Duy P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Trường G, xã Trường T, huyện H, tỉnh N nhưng hiện nay sống lang thang không có nơi cư trú ổn định. Do anh P không có nơi cư trú ổn định nên Chủ tịch UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh N đã ban hành Quyết định số: 301/QĐ-UBND ngày 15/12/2019 đưa anh Trương Duy P vào cơ sở cai nghiện (Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh N) để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H: Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Trương Duy P do Chủ tịch UBND thị trấn H lập đã thể hiện: anh P là người nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh N xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P, thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H: Tòa án nhân dân huyện H đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trương Duy P, thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.

Tại phiên họp, anh P thừa nhận bản thân bị nghiện ma túy và đồng ý đi cai nghiện.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, có đủ cơ sở xác định:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn H đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trương Duy P, xét thấy hồ sơ đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103, 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, 4, 8, 9, 11, 12, 13 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm 2 khoản 1 và điểm 1 khoản 2 Điều 1 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

Nội dung hồ sơ thể hiện anh Trương Duy P là người nghiện ma túy nên biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội. Để tạo điều kiện cho anh P chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề, nên xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh P.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, anh P thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và đồng ý đi cai nghiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Không có. Tuy nhiên, ngày 25/11/2019 anh P đã bị Công an xã Long Thành T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp tiền phạt nhưng đến ngày 15/12/2019 anh P tiếp tục sử dụng ma túy, hành vi này cũng cần xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 6, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, 4, 8, 9, 11, 12, 13 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm 2 khoản 1 và điểm 1 khoản 2 Điều 1 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trương Duy P.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh N, địa chỉ: Ấp Tân Lợi, xã Tân Hưng, huyện Tân Châu, tỉnh N.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện H có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện H; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh N.

Cỡ chữ