- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản (tiền) và nợ hụi”, giữa nguyên đơn bà M với các bị đơn ông N, bà N1"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của nguyên đơn bà M đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2019/DS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng.
- Căn cứ chính? Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04 /2020/QĐ-PT | Sóc Trăng, ngày 20 tháng 01 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
KHÔNG CHẤP NHẬN VIỆC KHÁNG CÁO QUÁ HẠN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
Với Hội đồng xét kháng cáo quá hạn gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Tố Hương.
Các Thẩm phán: Ông Hồ Văn Phụng.
Ông Lê Thanh Vũ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Sạch - Kiểm sát viên.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/12/2019 nguyên đơn bà M nộp đơn kháng cáo quá hạn (đơn đề ngày 23/12/2019), đơn nộp trực tiếp cho Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng để kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2019/DS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng, với nội dung: Ông N và bà N1 có vay tiền và nợ tiền hụi của bà là sự thật và có những người làm chứng đã xác nhận sự việc này, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện của bà là chưa phù hợp với các chứng cứ của vụ án. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng chấp nhận đơn khởi kiện của bà, giải quyết buộc ông N và bà N1 trả cho bà số tiền còn nợ là 77.000.000 đồng.
XÉT THẤY:
Việc kháng cáo của bà M là quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc kháng cáo quá hạn: Qua xem xét tài liệu chứng minh cho việc kháng cáo quá hạn có trong hồ sơ, thể hiện vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 27/11/2019 Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản (tiền) và nợ hụi”, giữa nguyên đơn bà M với các bị đơn ông N, bà N1 và Tòa tuyên án cùng ngày. Bà M có mặt tại phiên tòa sơ thẩm từ lúc khai mạc phiên tòa cho đến khi kết thúc phiên tòa, kể cả thời điểm Hội đồng xét xử tuyên án thì bà M cũng được nghe Chủ tọa phiên tòa giải thích về quyền và thời hạn kháng cáo của đương sự có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (nội dung phần quyết định của bản án sơ thẩm cũng có nêu về thời hạn kháng cáo này). Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án vào ngày 27/11/2019 nên tính đến hết ngày 12/12/2019 là hết thời hạn kháng cáo, nhưng mãi đến ngày 23/12/2019 bà M mới nộp đơn kháng cáo là trễ hạn 11 ngày so với quy định của pháp luật.
Theo nội dung Văn bản trình bày lý do kháng cáo quá hạn đề ngày 30/12/2019, bà M cho rằng: Bà kháng cáo quá hạn là do theo quy định của pháp luật thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án Tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bà, nhưng đến ngày 18/12/2019 bà mới nhận được bản án. Khi Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án thì bà có nghe đọc nhưng do bà là người dân tộc Khơ me nên khả năng nghe tiếng Việt bị hạn chế, bà không hiểu được bản án đã tuyên về vấn đề gì. Sau khi nhận được bản án vào ngày 18/12/2019 bà có nhờ con của bà đọc lại bản án cho bà nghe thì bà mới biết được trong bản án có nêu nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
Xét thấy, theo quy định tại khoản 2 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự. Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án vào ngày 27/11/2019 thì thời hạn mà Tòa án cấp sơ thẩm phải có trách nhiệm giao hoặc gửi bản án cho bà M là tính đến hết ngày 07/12/2019, nhưng mãi đến ngày 18/12/2019 Tòa án cấp sơ thẩm mới tiến hành tống đạt bản án cho bà M là có vi phạm tố tụng nhưng đây là trách nhiệm của Thẩm phán và Thư ký được phân công giải quyết vụ án, chứ pháp luật không có quy định thời hạn Tòa án cấp sơ thẩm gửi bản án trễ cho đương sự được trừ vào thời hạn kháng cáo. Hơn nữa, bà M có mặt tại phiên tòa, có nghe Hội đồng xét xử tuyên án và nghe Chủ tọa phiên tòa giải thích về quyền và thời hạn kháng cáo của đương sự có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nhưng trong thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ 27/11/2019 đến hết ngày 12/12/2019 bà M không chủ động liên hệ đến Tòa án cấp sơ thẩm để xin nhận bản án, xin số bản án, xin trích lục phần quyết định của bản án, v.v... nhằm thực hiện quyền kháng cáo của mình, đến khi Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt bản án cho bà M vào ngày 18/12/2019 là đã quá thời hạn kháng cáo nhưng thì mãi đến ngày 23/12/2019 bà M mới nộp đơn kháng cáo. Theo hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về lý do chính đáng là: “Trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác (như: do thiên tai, lũ lụt; do ốm đau, tai nạn phải điều trị tại bệnh viện,...) làm cho người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật định” thì việc Tòa án cấp sơ thẩm gửi trễ bản án cho bà M không phải là trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khiến cho bà M không thực hiện được quyền kháng cáo của mình trong thời hạn luật định. Còn về vấn đề bà M cho rằng do bà là người dân tộc Khơ me khả năng nghe tiếng Việt bị hạn chế nên không hoàn toàn hiểu được bản án đã tuyên về vấn đề gì thì thấy rằng tại theo biên bản phiên tòa sơ thẩm thể hiện bà M nói và nghe rành tiếng Việt, không yêu cầu người phiên dịch tiếng Khơ me và tại phiên tòa sơ thẩm cũng có mặt ông Nguyễn Văn Ninh là Luật sư cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sóc Trăng tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà M, nên đây không phải là lý do chính đáng để có thể xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với tinh thần hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì lý do kháng cáo quá hạn mà bà M đưa ra là không chính đáng, nên không được Hội đồng xét kháng cáo quá hạn chấp nhận.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét kháng cáo quá hạn kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, phát biểu về nội dung kháng cáo quá hạn và cho rằng lý do kháng cáo quá hạn mà bà M đưa ra là không chính đáng, nên đề nghị Hội đồng xét kháng cáo quá hạn không chấp nhận. Xét đề nghị này của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ, phù hợp với nhận định nêu trên.
Căn cứ vào Điều 275 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của nguyên đơn bà M đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2019/DS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT KHÁNG CÁO QUÁ HẠN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND huyện A; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Bà M; - Lưu hồ sơ vụ án. | Trương Tố Hương |