- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2019/QĐST-VDS | Hàm Thuận Bắc, ngày 30 tháng 9 năm 2019. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v : Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tâm.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Phương Trinh – Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thái Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2019/TLST- VDS ngày 24 tháng 4 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2019/QĐST- VDS ngày 17 tháng 9 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phùng Kim K, sinh năm 1965 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1956 (vắng mặt).
Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu đề ngày 18 tháng 4 năm 2019 và bản tự khai, ông Phùng Kim K trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Thanh L tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2001, không có đăng ký kết hôn, không có con chung, vợ chồng sống đến năm 2009 thì bà Loan tự ý bỏ nhà đi, không rõ đi đâu, kể từ đó không về nữa. Ông K đã tìm đủ mọi cách để tìm kiếm bà L nhưng không có kết quả. Nay, ông Phùng Kim K đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tuyên bố bà Nguyễn Thị Thanh L mất tích để làm thủ tục về nhân khẩu trong hộ khẩu theo quy định của pháp luật. Về quản lý tài sản chung vợ chồng: Ông K không yêu cầu nên Tòa không xem xét, giải quyết.
Tại phiên họp, ông Phùng Kim K giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Thanh L mất tích.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc phát biểu: Quá trình thụ lý và tại phiên họp, Thẩm phán đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc và lời trình bày của người yêu cầu tại phiên họp, đề nghị Thẩm phán Chủ tọa phiên họp chấp nhận yêu cầu của ông K .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung Đơn yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Thanh L mất tích nộp ngày 18/4/2019 của ông Phùng Kim K, có cơ sở xác định yêu cầu của ông K là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người bị yêu cầu) là bà Nguyễn Thị Thanh L có nơi cư trú cuối cùng tại xã Đ, huyện H nên vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc theo quy định Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quyền yêu cầu tuyên bố một người mất tích: Ông Phùng Kim K là người sống chung như vợ chồng với bà Nguyễn Thị Thanh L nên có quyền yêu cầu tuyên bố bà L mất tích theo quy định tại Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Theo lời trình bày của ông Phùng Kim K thì ông và bà Nguyễn Thị Thanh L sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 2001, trong quá trình chung sống, ông và bà L không có con chung. Năm 2009, bà L bỏ nhà đi cho đến nay, mặc dù ông K đã tìm mọi cách để nhắn tin, tìm kiếm nhưng không tìm được và cũng không có tin tức về bà L . Nay để thực hiện thủ tục về nhân khẩu trong hộ khẩu nên ông K yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1956, có nơi cư trú cuối cùng tại thôn B, xã Đ, huyện H mất tích.
Theo biên bản xác minh ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc thì Uỷ ban nhân dân xã Đ xác nhận: “Bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1956 có đăng ký hộ khẩu tại thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Tuy nhiên hiện nay bà L không có mặt tại địa phương. Bà L đã bỏ địa phương đi cách đây nhiều năm. Khi bà đi không trình báo chính quyền địa phương nên không xác định được hiện nay bà L đang ở đâu”.
Ngày 06/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 02/2019/QĐ-TA. Quyết định này được đăng tải trên báo Công lý ba số liên tiếp 39, 40, 41 vào các ngày 15/5/2019, 17/5/2019, 22/5/2019 và trên kênh VTV9 đài tiếng nói Việt Nam ba ngày liên tiếp 20/5/2019, 21/5/2019, 22/5/2019 và đăng tin trên báo Nhân dân ba số liên tiếp 23224, 23225, 23226 ngày 17/5/2019, 18/5/2019, 19/5/2019. Hết thời hạn 04 (Bốn) tháng kể từ ngày đăng thông báo tìm kiếm bà Nguyễn Thị Thanh L trên báo, đài và Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân nhưng không có thông tin gì về bà Nguyễn Thị Thanh L.
Như vậy, bà Nguyễn Thị Thanh L đã biệt tích 02 (Hai) năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc bà Nguyễn Thị Thanh L còn sống hoặc đã chết mặc dù ông Phùng Kim K đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định tại Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”. Do đó, việc ông Phùng Kim K yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Thanh L mất tích là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc về quan điểm giải quyết việc dân sự phù hợp với nhận định của Tòa nên được chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự và chi phí của việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Căn cứ Điều 149, Điều 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Phùng Kim K phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 149, Điều 150, Điều 370, Điều
371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phùng Kim K.
Tuyên bố bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm: 1956, có nơi cư trú cuối cùng tại thôn 3, xã Đ, huyện H mất tích kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Ông Phùng Kim K phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ông Phùng Kim K đã nộp đủ 300.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0026590 ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, nên không phải nộp nữa.
Ông Phùng Kim K phải chịu 1.500.000đồng chi phí của việc đăng tin trên báo Công lý và chi phí của việc đăng, phát tin trên Báo nhân dân, trên kênh VTV9 đài tiếng nói Việt Nam. Ông Phùng Kim K đã nộp đủ 1.500.000đồng tại Tòa án và trực tiếp nộp đủ tại các cơ quan đăng, phát tin, nên không phải nộp nữa.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được Quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được niêm yết công khai tại địa phương.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. - Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc. - Uỷ ban nhân dân xã Đ; - Đương sự. - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Tâm |