- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH SỐ: 04/2019/QĐST-HNGĐ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Đông Triều, ngày 23 tháng 9 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Giới, Thẩm phán Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều.
- Thư ký phiên họp: Bà Tô Thị Lan Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều: Bà Phạm Thị Thu Hường, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 281/2019/TLST-VDS ngày 09 tháng 7 năm 2019 về việc "Yêu cầu xác định cha cho con", theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2019/QĐST-VDS ngày 06 tháng 9 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: 1. Chị Phạm Thu T, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Q; Có mặt. 2. Anh Đỗ Trung D, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Q; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện T, thành phố H. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” đề ngày 01 tháng 7 năm 2019 và trong quá trình giải quyết việc dân sự, chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D trình bày: Chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ vào ngày 29/01/2019. Đến ngày 15/4/2019 chị Phạm Thu T sinh cháu Đỗ Hoàng B, giới tính Nam theo Giấy chứng sinh số 15 ngày 15/4/2019 của Bệnh viện V. Nhưng trước đó chị Phạm Thu T đã kết hôn với anh Nguyễn Đình T, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện T, thành phố H nhưng chị T và anh T đã ly hôn theo bản án số 41/2018/HNGĐ-ST ngày 25/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Ngày 11/6/2019 chị T và anh D đã đưa cháu Đỗ Hoàng B đi làm xét nghiệm AND tại Trung tâm Công nghệ AND Việt Nam, trụ sở miền Bắc tại: Tầng 2 – CT12 tòa nhà B, phường T, quận N, thành phố H. Kết quả xác định anh Đỗ Trung D và cháu Đỗ Hoàng B có quan hệ huyết thống cha con với độ tin cậy 99,9999%. Nay chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D cùng đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xác nhận anh Đỗ Trung D và cháu Đỗ Hoàng B là hai cha con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, xét thấy:
Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D đã cung cấp các tài liệu đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D kết hôn với nhau và sinh ra cháu Đỗ Hoàng B. Tuy nhiên truy ngược tại thời điểm thụ thai thì chị T vẫn đang là vợ của anh Nguyễn Đình T. Chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D có hộ khẩu thường trú tại Thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Q yêu cầu Tòa án xác định cha cho con vì vậy việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều.
Về nội dung: Trong thời gian chị Phạm Thu T và anh Nguyễn Đình T còn là vợ chồng, do mâu thuẫn tình cảm nên hai người đã ly thân và làm thủ tục ly hôn thì chị T có quan hệ tình cảm với anh Đỗ Trung D. Ngày 29/01/2019 chị T và anh D kết hôn với nhau, ngày 15/4/2019 chị T sinh cháu Đỗ Hoàng B. Chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D khẳng định cháu Đỗ Hoàng B là con chung của hai vợ chồng. Kết luận phân tích ngày 11/6/2019 của Trung tâm công nghệ AND Việt Nam cũng kết luận: “Người có mẫu ghi tên Đỗ Trung D có quan hệ huyết thống cha – con với người có mẫu ghi tên Đỗ Hoàng B với độ tin cậy 99,9999%” Trong quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đình T, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện T, thành phố H. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 21/8/2019 tại Trại giam Thanh Xuân thể hiện nội dung: Anh Nguyễn Đình T thừa nhận tại thời điểm khoảng tháng 8 năm 2018 (thời điểm chị T thụ thai cháu Đỗ Hoàng B) anh và chị Phạm Thu T không có quan hệ tình cảm với nhau, trên danh nghĩa là vợ chồng nhưng anh chị đã ly thân từ cuối năm 2016, mỗi người sống một nơi. Anh cũng khẳng định cháu Đỗ Hoàng B không phải là con đẻ của anh và chị Phạm Thu T. Vì anh đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Xuân nên anh đề nghị được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc.
Tại phiên họp hôm nay, chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D có mặt, anh chị vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án xác định anh Đỗ Trung D là cha đẻ của cháu Đỗ Hoàng B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ việc của Thẩm phán, Thư ký đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Sau khi nghiên cứu hồ sơ và quá trình thẩm tra tại phiên họp xét thấy đủ căn cứ pháp luật đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của đương sự. Xác định anh Đỗ Trung D là cha đẻ của cháu Đỗ Hoàng B;
Xét yêu cầu của chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D về việc yêu cầu Tòa án xác định anh Đỗ Trung D là cha đẻ của cháu Đỗ Hoàng B là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D.
Chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D phải chịu lệ phí theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự; khoản 10 Điều 29, Điều 149, Điều 161, Điều 361, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”.
2. Xác định anh Đỗ Trung D là cha đẻ của cháu Đỗ Hoàng B, giới tính Nam, sinh ngày 15 tháng 4 năm 2019 theo Giấy chứng sinh số 15 ngày 15/4/2019 của Bệnh viện V.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) vào Ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ lệ phí giải quyết việc dân sự bằng tiền tạm ứng lệ phí mà chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0004062 ngày 09/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều). Chị Phạm Thu T và anh Đỗ Trung D đã nộp đủ tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ Quyết định. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày 23 tháng 9 năm 2019./.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Người yêu cầu - Người có QL,NV liên quan - VKSND TX Đông Triều - Chi cục THADS thị xã Đông Triều - TAND tỉnh. - UBND xã Hồng Thái Đông - Lưu ( hồsơ, VP). | Nguyễn Văn Giới |