- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích đối với bà Lâm Mỷ H"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bà Lâm Mỷ H, sinh năm 1983.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2019/QĐST-DS | Định Quán, ngày 31 tháng 7 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Ngọc Quyền
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 39/2019/TLST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2019/QĐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2019.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trương Hồng S, sinh năm 1987.
Địa chỉ: khu 3, ấp S 1, xã P, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lâm Mỷ H, sinh năm 1983
Nơi cư trú cuối cùng: khu 3, ấp S 1, xã P, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu và lời trình bày của ông Trương Hồng S trong quá trình giải quyết việc dân sự thể hiện: Tôi và bà Lâm Mỷ H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 20/3/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau tại khu 3, ấp S 1, xã P, huyện Định Quán. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được thời gian ngắn thì bà H bỏ nhà đi không thông báo cho tôi và gia đình tôi biết. Thời điểm bà H bỏ đi là từ đầu năm 2013 đến nay, tôi và gia đình đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm nhưng không biết bà H đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Nay tôi yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lâm Mỷ H mất tích để tôi làm thủ tục giải quyết ly hôn với bà H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên họp đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Trương Hồng S, tuyên bố bà Lâm Mỷ H mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Định Quán nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng:
Ông Trương Hồng S yêu cầu tuyên bố bà Lâm Mỷ H mất tích. Đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nơi cư trú cuối cùng của bà H tại huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai nên Tòa án nhân dân huyện Định Quán có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Trương Hồng S có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án chấp nhận.
Về nội dung:
Ông Trương Hồng S và bà Lâm Mỷ H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn, được UBND xã P, huyện Định Quán cấp giấy chứng nhận kết hôn số 34, quyển số 01 ngày 20/3/2011 và có 01 chung là Trương Hoàng Minh – sinh ngày 13/12/2011.
Trên cơ sở bản sao các tài liệu là : Sổ hộ khẩu gia đình, giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh và các tài liệu chứng cứ khác mà ông S gửi kèm theo đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đã đủ cơ sở xác định ông S và bà H là vợ chồng, nên theo quy định ông S có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố bà H mất tích.
Ông S và bà H chung sống đến đầu năm 2013 thì bà H bỏ nhà đi, từ đó bà H không liên lạc gì với gia đình, không rõ tung tích bà H ở đâu, không có tin tức xác thực được bà H còn sống hay đã chết. Ông S cùng gia đình đã áp dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm, có cả trên pH tiện thông tin đại chúng (Đài tiếng nói Việt Nam) nhưng không có tin tức gì về bà H.
Theo xác nhận của Công an xã P và kết quả xác minh của Tòa án tại địa pH (xã P, huyện Định Quán) thì bà H đã đi khỏi địa pH từ đầu năm 2013, hiện nay không có mặt tại địa pH, không có tin tức gì của bà H.
Sau khi Tòa án thụ lý việc dân sự, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Lâm Mỷ H, đăng trên báo nhân dân, cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao, phát sóng trên đài truyền hình Việt Nam theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có bất kỳ thông tin gì liên quan đến bà H.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật, đủ căn cứ xác định bà Lâm Mỷ H đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc bà H còn sống hay đã chết.
Xét yêu cầu của ông Trương Hồng S là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp chấp yêu cầu của ông S, tuyên bố bà Lâm Mỷ H mất tích.
Về lệ phí: Ông Trương Hồng S phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000đ.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bà Lâm Mỷ H, sinh năm 1983. Nơi cư trú cuối cùng: khu 3, ấp S 1, xã P, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trương Hồng S phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) lệ phí sơ thẩm, số tiền 300.000đ ông S đã nộp theo Biên lai thu số 0002038 ngày 26/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định được trừ vào tiền lệ phí ông S phải chịu.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND H. Định Quán; - Chi cục THA DS H. Định Quán; - UBND xã P, ĐQ; - Lưu. | Phạm Ngọc Quyền |