vanban.org

Quyết định 04/2019/QĐST-DS — Y/c công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án

TAND huyện An Lão, TP. Hải Phòng Tuyên án 26/08/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chị Phan Thị L phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL toàn bộ số tiền nợ tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2019 là 132.

Trường hợp chị Phan Thị L không trả số nợ trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng phát mại toàn bộ tài sản thế chấp theo biên bản thẩm định tài sản ngày 13 tháng 8 năm 2019 gồm: Quyền s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án — án dân sự — "Ngân hàng TMCP KL-Phan Thi L"
  • Tòa quyết gì? Chị Phan Thị L phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL toàn bộ số tiền nợ tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2019 là 132.
  • Căn cứ chính? Điều 419 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2019/QĐST-DSAn Lão, ngày 26 tháng 8 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH NGOÀI TÒA ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đinh Duy Việt

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Trần Công Tài - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng mở phiên họp xét công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thụ lý số 37/2019/TLST-VDS ngày 02 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định mở phiên họp số 1044/2019/QĐMPH-ST ngày 16 tháng 8 năm 2019.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

+ Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL; địa chỉ: Số 40-42-44 PHT, phường VTV, thành phố RG, tỉnh KG;

Đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn A – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Hữu V - Giám đốc Phòng giao dịch Kiến An, thành phố Hải Phòng - Chi nhánh Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Kiên Long (theo văn bản ủy quyền số 11/UQ-KLHP ngày 29 tháng 5 năm 2019). Có mặt.

+ Chị Phan Thị L; trú tại: Thôn S, xã TS, huyện AL, HP. Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu là Ngân hàng TMCP KL và chị Phan Thị L trình bày:

Ngày 02 tháng 8 năm 2019, Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã tiến hành hòa giải vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa người khởi kiện là Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL, người bị kiện là chị Phan Thị L.

Tại biên bản hòa giải thành ngày 02 tháng 8 năm 2019, những người tham gia hòa giải đã thống nhất thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, cụ thể như sau:

1. Về quan hệ tín dụng: Ông Hoàng Hữu V và chị Phan Thị L thống nhất: Theo hợp đồng tín dụng số 235/15/HĐTD/1404/2317 ngày 14 tháng 8 năm 2015 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL và chị Phan Thị L và quá trình thực hiện hợp đồng: Tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2019, chị Phan Thị L còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL số tiền là: 132.497.776đ (một trăm ba mươi hai triệu, bốn trăm chín mươi bẩy nghìn, bẩy trăm bẩy mươi sáu đồng) trong đó: Nợ gốc: 75.000.000đ (bẩy mươi lăm triệu đồng); Nợ lãi trong hạn: 38.478.895đ(ba mươi tám triệu, bốn trăm bẩy mươi tám nghìn, tám trăm chín mươi lăm đồng).

Chị Phan Thị L sẽ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL toàn bộ số tiền nợ trên.

2. Về việc xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp chị Phan Thị L không trả số nợ trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp bao gồm: 143,3m2 và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất trên thửa đất số 295; tờ bản đồ số 221-D-2, địa chỉ: Thôn S, xã TS, huyện AL, HP. Đất đã được Uỷ ban nhân dân huyện An Lão cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên người được quyền sử dụng là Phan Thị L. Việc thoả thuận theo hợp đồng thế chấp số 235/15/HĐTC-BĐS/1404-2317 ngày 14 tháng 8 năm 2015, giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL và chị Phan Thị L.

Sau khi thoả thuận tại Trung tâm hoà giải đối thoại Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL và chị Phan Thị L cùng yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành theo biên bản hòa giải thành ngày 02 tháng 8 năm 2019 .

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13 tháng 8 năm 2019 đã xác định được như sau: Hiện trạng diện tích đất chị Phan Thị L đang sử dụng là 136,1m2; trên đất có các tài sản là: 01 nhà cấp 4 diện tích 36,4m2 xây dựng năm 2015, 01 nhà bếp diện tích 21,08m2 + 01 giếng xây dựng năm 1995, 01 nhà vệ xây diện tích 3,3m2 dựng năm 2018, tường bao cao 1,5m dài 4m xây dựng năm 2018, tại thửa đất số 295; tờ bản đồ số 221-D-2, địa chỉ: Thôn S, xã TS, huyện AL, HP.

Tại phiên họp:

Chị Phan Thị L xác nhận toàn bộ tài sản thế chấp như mô tả tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13 tháng 8 năm 2019 là tài sản của riêng cá nhân chị không liên quan đến người nào khác, việc diện tích đất gia đình chị có giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do khi làm đường ngõ xóm chị đã hiến một phần đất cho xóm làm đường, nay đề nghị Toà án xem xét việc thoả thuận theo thực tế tài sản như biên bản thẩm định tài sản của Toà án. Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL ông Hoàng Hữu V nhất trí với ý kiến của chị Phan Thị L và đề nghị Toà án xem xét công nhận sự thoả thuận theo thực tế tài sản.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật;

- Về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án căn cứ khoản 7 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm s khoản 2 Điều 39; Điều 370; Điều 417; khoản 1 Điều 418; khoản 2, 4, 5 Điều 419 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại biên bản hòa giải thành ngày 02 tháng 8 năm 2019 tại Trung tâm hòa giải, đối thoại Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL và chị Phan Thị L.

Về lệ phí: Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL nhận nộp cả lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự và lệ phí thẩm định tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Đây là việc dân sự về yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. Người yêu cầu là Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL và chị Phan Thị L, địa chỉ: Thôn S, xã TS, huyện AL, HP nên theo quy định tại khoản 7 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm s khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Về thời hiệu giải quyết việc dân sự: Ngày 02 tháng 8 năm 2019, Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL, chị Phan Thị L có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện An Lão công nhận kết quả hòa giải thành ngoài tòa án theo biên bản hòa giải thành ngày 02 tháng 8 năm 2019 tại Trung tâm hòa giải đối thoại Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Như vậy, việc dân sự còn thời hiệu giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 418 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Ngày 02 tháng 8 năm 2019, Trung tâm hòa giải, đối thoại Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã tiến hành hòa giải vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa người khởi kiện Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL; người bị kiện chị Phan Thị L.

Nhận thấy nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên tại biên bản hòa giải thành ngày 02 tháng 8 năm 2019 tại Trung tâm hòa giải, đối thoại Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba. Việc thoả thuận này phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đối với tài sản thế chấp tại phiên họp các bên đề nghị công nhận sự thoả thuận theo thực tế tài sản của biên bản thẩm định tài sản. Theo quy định tại Điều 417 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL, chị Phan Thị L: Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài tòa án theo biên bản hòa giải thành ngày 02 tháng 8 năm 2019 tại Trung tâm hòa giải, đối thoại Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL và chị Phan Thị L.

Căn cứ khoản 7 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm s khoản 2 Điều 39; Điều 370; Điều 417; khoản 1 Điều 418; khoản 2, 4, 5 Điều 419 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thụ lý số 37/2019/TLST-VDS ngày 02 tháng 8 năm 2019 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL và chị Phan Thị L, cụ thể như sau:

Chị Phan Thị L phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL toàn bộ số tiền nợ tính đến hết ngày 31 tháng 7 năm 2019 là 132.497.776đ (một trăm ba mươi hai triệu, bốn trăm chín mươi bẩy nghìn, bẩy trăm bẩy mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là: 75.000.000đ (bẩy mươi lắm triệu đồng); nợ lãi trong hạn: 38.478.895đ (ba mươi tám triệu, bốn trăm bẩy mươi tám nghìn, tám trăm chín mươi lăm đồng).

Trường hợp chị Phan Thị L không trả số nợ trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng phát mại toàn bộ tài sản thế chấp theo biên bản thẩm định tài sản ngày 13 tháng 8 năm 2019 gồm: Quyền sử dụng đất 136,1m2 tại thửa đất số 295; tờ bản đồ số 221-D-2, địa chỉ: Thôn S, xã TS, huyện AL, HP, đất đã được Uỷ ban nhân dân huyện An Lão cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Phan Thị L ngày 12 tháng 11 năm 2013.Tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp 4 diện tích 36,4m2 xây dựng năm 2015, 01 nhà bếp diện tích 21,08m2 + 01 giếng xây dựng năm 1995, 01 nhà vệ xây diện tích 3,3m2 dựng năm 2018, tường bao cao 1,5m dài 4m xây dựng năm 2018.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày thoả thuận chốt nợ (ngày 31 tháng 7 năm 2019), người phải thi hành án chị Phan Thị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Điều 2: Lệ phí giải quyết việc dân sự:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL nhận nộp cả 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Số tiền này được khấu trừ vào tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0017318 ngày 02 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án huyện An Lão, thành phố Hải Phòng; Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL nhận nộp cả 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lệ phí thẩm định tài sản, Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL đã nộp đủ khoản này.

Điều 3: Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Điều 4: Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ