- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Cao Thị S - Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Cao Thị S.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________________ Số: 04/2018/QĐVDS-ST Ngày: 12-6-2018 V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
- Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Nhật Lam - Thẩm phán.
- Thư ký phiên họp: Ông Phạm Hồng Tâm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên họp: Bà Trần Kim Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2018/TLST - VDS ngày 20 tháng 4 năm 2018 về “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2018/QĐVDS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Cao Thị S, sinh năm 1961; Địa chỉ cư trú: ấp Đ, xã A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1 Chị Cao Thị Q, sinh năm 1981; Địa chỉ cư trú: ấp Đ, xã A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
2.2 Chị Cao Thị K, sinh năm 1989; Địa chỉ cư trú: ấp Đ, xã A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
2.3 Anh Cao Văn G, sinh năm 1989; Địa chỉ cư trú: ấp Đ, xã A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
2.4 Anh Cao Văn P, sinh năm 1991; Địa chỉ cư trú: ấp Đ, xã A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và lời khai tại phiên họp bà Cao Thị S trình bày: Bà và ông Cao Văn L (chết năm 2009) sống chung và có tất cả 04 người con gồm: Cao Thị Q, Cao Thị K, Cao Văn G, Cao Văn P.
Trong số các con, có Cao Thị Q bị bệnh tâm thần phân liệt hoang tưởng từ năm 1997 cho đến nay. Gia đình phải đưa Q đi điều trị nhiều nơi, trong đó co Bệnh viện tâm thần Trương ương 2 với thời gian điều trị lâu dài nhưng Q vẫn không hết bệnh. Hiện nay Q đang được điều trị ở nhà và gia đình phải xiềng xích lại nếu không sẽ lên cơn bệnh phá phách người khác. Bà S là người trực tiếp chăm sóc Q từ khi sinh Q ra cho đến nay.
Do cần bổ sung hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất để lo cho Q nên bà S yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh tuyên bố Cao Thị Q bị mất năng lực hành vi dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Thị K trình bày: Chị Cao Thị Q từ nhỏ đã bị bệnh, được mẹ là bà Cao Thị S nuôi dưỡng. Vì vậy, chị K yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Q mất năng lực hành vi dân sự, thống nhất để mẹ chị là bà S là người giám hộ của chị Q.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Văn G trình bày: Chị Cao Thị Q từ nhỏ đã bị bệnh, được mẹ là bà Cao Thị S nuôi dưỡng. Vì vậy, anh G yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Q mất năng lực hành vi dân sự, thống nhất để mẹ chị là bà S là người giám hộ của chị Q.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Văn P trình bày: Chị Cao Thị Q từ nhỏ đã bị bệnh, được mẹ là bà Cao Thị S nuôi dưỡng. Vì vậy, anh Bưu yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Q mất năng lực hành vi dân sự, thống nhất để mẹ chị là bà S là người giám hộ của chị Q. Tại phiên họp, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh phát biểu:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết việc dân sự cũng như tại phiên họp: Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tại kết luận Giám định pháp y tâm thần số: 258/KL – VPYTW ngày 29 tháng 5 năm 2018 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa đối với chị Cao Thị Q. Theo kết luận giám định: Chị Q bị bệnh tâm thần phân liệu thể di chứng (F20.5- ICD.10) và mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Căn cứ các Điều 361, Điều 370, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu của bà S, về việc: “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” đối với chị Cao Thị Q là phù hợp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, được thẩm tra tại phiên họp, kết quả tranh luận tại phiên họp và ý kiến của Kiểm sát viên, Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh nhận định:
Về tố tụng: Bà Cao Thị S yêu cầu “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” đối với chị Cao Thị Q có địa chỉ cư trú tại ấp Đ, xã A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Về nội dung: Do cần bổ sung hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất để lo cho chị Q. Vì vậy, ngày 18-4-2018 bà S khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Q là người mất năng lực hành vi dân sự để bổ sung hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và là người giám hộ đương nhiên của chị Q.
Ngày 02-5-2018 bà S có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với chị Q. Ngày 03-5-2018, Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần về năng lực hành vi dân sự của chị Q. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 258/KL – VPYTW ngày 29 tháng 5 năm 2018 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa đối với chị Cao Thị Q đã kết luận:
- Về y học: Chị Cao Thị Q bị tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5-ICD.10).
- Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay, chị Q mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.
Do đó, có đủ cơ sở xác định chị Cao Thị Q là người bị mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên chấp nhận đơn yêu cầu của bà S.
Về việc giám hộ: Hiện nay mẹ ruột của chị Cao Thị Q là bà Cao Thị S trực tiếp chăm sóc cho chị Q, các em của chị Q là chị Cao Thị K, Cao Văn G, Cao Văn P cũng thống nhất để bà S làm người giám hộ cho chị Q. Bà S có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Do vậy, căn cứ Điều 49, Điều 53 Bộ luật Dân sự, bà Cao Thị S là người giám hộ đương nhiên cho chị Cao Thị Q.
Về chi phí giám định: Bà Cao Thị S tự nguyện chịu 12.000.000 đồng, đã nộp xong.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Cao Thị S phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, khấu trừ tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005380 ngày 20 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án thành phố Tây Ninh; bà S đã nộp đủ lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 367; Điều 361, Điều 370, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 22, Điều 49 và Điều 53 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Cao Thị S.
2. Tuyên bố: Chị Cao Thị Q là người mất năng lực hành vi dân sự. Bà Cao Thị S là người giám hộ cho chị Cao Thị Q. Trong phạm vi giám hộ, bà Cao Thị S được thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định của pháp luật đối với người giám hộ.
3. Về chi phí giám định: Bà Cao Thị S tự nguyện chịu 12.000.000 đồng, đã nộp xong.
4. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Bà Cao Thị S phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, khấu trừ tiền tạm ứng lệ phí bà S đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005380 ngày 20 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án thành phố Tây Ninh; bà S đã nộp đủ lệ phí.
Người yêu cầu được quyền kháng cáo quyết định này lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-TAND tỉnhTây Ninh; - VKS TP Tây Ninh; - Chi cục THADS TP Tây Ninh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN (Đã ký) Trương Nhật Lam |