- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ph (Nơi cư trú cuối cùng: Thôn S, xã Q, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) mất tích kể từ ngày 01/01/2010.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2018/QĐDS -ST Ngày 26/7/2018 V/v: “Tuyên bố một người mất tích”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Văn Toàn - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Vân Anh - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên họp: Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2018/TLST-VDS, ngày 03/01/2018, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 03/2018/QĐ- VDS, ngày 17/7/2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: ông Trần Quốc B, sinh năm: 1968.
Trú tại: Thôn S, xã Q, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Ph mất tích, cụ thể như sau:
Ông Trần Quốc B và bà Nguyễn Thị Ph kết hôn vào năm 1988, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, được tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ. Sau ngày cưới ông B và bà Ph về chung sống tại thôn S, xã Quyết Th, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc, sau đó vợ chồng thỉnh thoảng có mâu thuẫn nhau do bất đồng quan điểm. Ngày 24/01/2009 (âm lịch) bà Ph đã tự ý bỏ nhà đi mà không rõ nguyên nhân. Bà Ph đi đâu, làm gì ông B không biết, từ đó đến nay bà Ph không quay lại địa phương lần nào nữa, ông có đi tìm khắp nơi nhưng cũng không ai biết bà Ph đi đâu hay làm gì, vì vậy ông làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Ph mất tích.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ việc của ông Trần Quốc B, Toà án đã thông báo nhắn tin trên phương tiện thông tin đại chúng, nay đã quá 04 tháng nhưng không thấy bà Ph trở về nên ông yêu cầu Toà án nhân dân huyện Sơn Dương tuyên bố bà Nguyễn Thị Ph mất tích kể từ năm 2009; Về con chung: Có 02 con chung là cháu Trần Quốc T, sinh năm 1990 và cháu Trần Quốc T, sinh năm 1992. Hiện nay các cháu đã trưởng thành nên ông không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản, đất đai, công nợ chung: ông B xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương nhận định:
Ông Trần Quốc B và bà Nguyễn Thị Ph được tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau ngày cưới ông B và bà Ph cùng sinh sống tại thôn S, xã Quyết Th, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2009 bà Nguyễn Thị Ph đã tự ý bỏ đi không rõ nguyên nhân, từ đó đến nay cũng không có tin tức gì. Ngày 03/01/2018 Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương đã nhận được đơn đề nghị của ông B về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Ph mất tích và đề nghị Toà án áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng bằng hình thức đăng báo Công lý nhắn tin 03 số liên tiếp (22, 23, 24) ra các ngày 16, 21, 23/3/2018; thông báo nhắn tin trên đài tiếng nói Việt Nam phát hồi 11 giờ 50 phút các ngày 27, 28, 29/3/2018 theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đến nay đã quá 04 tháng nhưng bà Nguyễn Thị Ph vẫn không trở về.
Qua điều tra xác minh tại địa phương nơi bà Nguyễn Thị Ph cư trú cuối cùng thể hiện: ông Trần Quốc B và bà Nguyễn Thị Ph cùng có hộ khẩu thường trú tại thôn S, xã Quyết Th, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Năm 1988 ông B và bà Ph kết hôn sau đó chung sống tại thôn S, xã Q, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đến năm 2009 bà Ph bỏ đi đâu không rõ địa chỉ, từ đó đến nay không thấy bà Ph quay lại địa phương lần nào. Khi bỏ đi bà Ph không khai báo gì với chính quyền địa phương, không làm thủ tục tạm vắng và cũng không cắt chuyển khẩu đến địa phương nào. Nay chính quyền địa phương không biết bà Ph làm gì, ở đâu.
Như vậy có căn cứ để xác định nơi cư trú cuối cùng của bà Nguyễn Thị Ph là thôn S, xã Q, huyện Sơn Dương. Ông B xác định ngày cuối cùng bà Ph bỏ đi biệt tích là ngày 24/01/2019 (âm lịch). Tuy nhiên kết quả xác minh tại chính quyền địa phương chỉ xác định được năm biết tin tức cuối cùng bà Ph là năm 2009, không xác định được ngày tháng cụ thể. Vì vậy, xác định ngày bà Ph mất tích là ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng (tức là ngày 01/01/2010) là phù hợp quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của ông Trần Quốc B về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Ph mất tích là phù hợp với quy định của pháp luật
Về con chung, tài sản, đất đai, công nợ chung: ông Trần Quốc B không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Ông Trần Quốc B phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đề nghị Toà án nhân dân huyện Sơn Dương căn cứ vào điều 68 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của ông Trần Quốc B, tuyên bố bà Nguyễn Thị Ph mất tích kể từ ngày 01/01/2010.
Từ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; Điều 144, 149, 369, 370, 371, 372, 389 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng điều 68 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ph (Nơi cư trú cuối cùng: Thôn S, xã Q, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) mất tích kể từ ngày 01/01/2010.
2. Lệ phí việc dân sự phải nộp: ông Trần Quốc B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005684 ngày 03/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương.
Ông Trần Quốc B được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định (ngày 26/7/2018)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Sơn Dương; - Chi cục THADS huyện Sơn Dương; - UBND xã Q; - Người yêu cầu; - Lưu HS. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Văn Toàn |