vanban.org

Quyết định 04/2018/QĐDS-ST — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú"
  • Căn cứ chính? Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 381 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 383 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DK
TỈNH KHÁNH HÒA
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2018/QĐDS-ST
Ngày: 20/7/2018
“V/v: Thông báo tìm kiếm người
vắng mặt nơi cư trú”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK - TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

- Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Kim Vinh - Thẩm phán.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện DK, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK tham gia phiên họp: Ông Trần Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK - Khánh Hòa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2018/TLST-VDS ngày 18 tháng 6 năm 2018 về yêu cầu “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp số 04/2018/QĐPH-ST ngày 05 tháng 7 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Võ Th - sinh năm 1972 Địa chỉ: thôn ĐB - xã DT - huyện DK - tỉnh Khánh Hòa.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn M - sinh năm 1969 Địa chỉ: Tổ dân phố Đ 3 - thị trấn DK - huyện DK.

3.Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông Nguyễn Văn M.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, nhận định:

Bà Võ Th và ông Nguyễn Văn M tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân thị trấn DK vào năm 2002. Sau khi kết hôn, bà Th và ông M sinh sống nhà cha mẹ chồng tại Tổ dân phố P3 - thị trấn DK - huyện DK - tỉnh Khánh Hòa. Trong quá trình chung sống, do vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông M có mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, gia đình không hạnh phúc. Năm 2005, bà Th đã về nhà mẹ ruột sinh sống, không còn chung sống với ông M. Từ năm 2013, ông M đã bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là Tổ dân phố P3 - thị trấn DK - huyện DK - tỉnh Khánh Hòa, đây là nơi cư trú cuối cùng của ông M mà bà Th biết. Bà Th đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức của ông M. Theo đơn xác nhận và biên bản xác M ngày 13/6 và ngày 18/6/2018 của Công an thị trấn DK thì Ông Nguyễn Văn M đã không có mặt tại địa chỉ nói trên từ năm 2013 cho đến nay và bà Th không biết ông Nguyễn Văn M đang cư trú ở đâu. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định ông Nguyễn Văn M đã biệt tích trên 06 tháng và việc vắng mặt tại nơi cư trú của ông M đã ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà Võ Th. Do đó, yêu cầu “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” của bà Võ Th đối với ông Nguyễn Văn M là có cơ sở nên cần chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào Điều 64 của Bộ luật dân sự 2015; Căn cứ vào các Điều 370, Điều 381 và Điều 383 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; 1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Võ Th về việc “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” đối với ông Nguyễn Văn M. 2. Bà Võ Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2012/0018838 ngày 18/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện DK - Khánh Hòa. 3. Bà Võ Th có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân huyện DK có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Ông Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.

Cỡ chữ