- Tranh chấp gì? "áp dụng BPXLHC"
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 03/2018/QĐ-TA Châu Thành, ngày 07 tháng 02 năm 2018 | Số: 03 /2018/QĐ-TA Châu Thành, ngày 7 tháng 2 năm 2018 |
HUYỆN CHÂU THÀNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc QUYEÁT ÑÒNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYỆN CHÂU THÀNH Vôùi thaønh phaàn tiến hành phiên họp goàm coù: 1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Hưng. 2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Nhân - Cán bộ Tòa án
nhân dân h
uyện Châu Thành. Ngày 07 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 03/QĐ-TA ngày 01/02/2018, đối với : Họ và tên: Lê Phước N Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam. Ngày sinh: 22/5/1994 Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: sửa xe Trình độ văn hóa: lớp 9/12 Nguyên quán: huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Hộ khẩu thường trú và Nơi ở hiện nay: ấp TP, xã TPT, huyện CT, tỉnh DT. Là con của : ông Lê Phục C và bà Nguyễn Thị H Tiền sự: Ngày 02/11/2017, Chủ tịch UBND xã TPT (huyện CT, tỉnh DT) ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 12/QĐ-UBND đối với ông Lê Phước N thời hạn 03 tháng về hành vi nghiện ma túy. Ông Lê Phước N có mặt tại phiên họp. Có sự tham gia của : 1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện Châu Thành: Bà La Thị Mỹ T – Phó Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện Châu Thành. 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: Ông Trần Cao L - Kiểm sát viên. NHẬN THẤY Ngày 04/10/2017, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy của Công an huyện CT kết hợp với Công an xã TPT (huyện CT) phát hiện và mời Lê Phước N đến làm việc, thì ông Lê Phước N thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy vào
ngày 02/10/2017, loại ma túy tổng hợp, hình thức: hút, sử dụng tại nhà ở ấp TP, xã TPT, huyện CT, tỉnh DT. Trong ngày 04/10/2017, Công an huyện Châu Thành đã đưa ông Lê Phước N đến Bệnh viện đa khoa huyện CT để xác định tình trạng nghiện ma tuý. Bệnh viện đa khoa huyện CT trả lời kết quả ông Lê Phước N có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng: dương tính với Methamphetamine (MET), chất kích thích tổng hợp. Ngày 02/11/2017, Chủ tịch UBND xã TPT (huyện CT, tỉnh DT) ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 12/QĐ-UBND đối với ông Lê Phước N thời hạn 03 tháng về hành vi nghiện ma túy. Hình thức cai nghiện, điều trị cai nghiện: tại gia đình. Ngày 18/01/2018, Công an huyện CT phát hiện và mời Lê Phước N làm việc thì ông Lê Phước N thừa nhận sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 13/01/2018 tại ấp TP, xã TPT, huyện CT,tỉnh DT. Hình thức sử dụng là hút, loại ma túy sử dụng là ma túy tổng hợp (ma túy đá). Công an huyện CT đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 99/BB-VPHC ngày 18/01/2018 về việc ông Lê Phước N sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp vào ngày 13/01/2018 tại ấp TP, xã TPT, huyện CT, tỉnh DT. Trong ngày 18/01/2018, Công an huyện CT đã đưa ông Lê Phước N đến Trung tâm Y tế huyện CT, tỉnh DT để xác định tình trạng nghiện ma túy. Trung tâm y tế huyện CT ra Phiếu trả lời kết quả số 05/TLKQ ngày 18/01/2018 về việc xác định tình trạng nghiện ma túy trong đó xác định ông Lê Phước N có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng: dương tính với Methamphetamine (MET), chất kích thích tổng hợp. Ngày 19/01/2018, Chủ tịch UBND xã TPT (huyện CT, tỉnh DT) ra Quyết định số 01/QĐ-UBND về việc chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Lê Phước N với lý do: ông Lê Phước N chấp hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nơi cư trú được hơn 01 tháng 16 ngày (hơn ½ thời gian) nhưng không tiến bộ mà lại tiếp tục vi phạm sử dụng ma túy, thuộc trường hợp đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Công an huyện CT ra Thông báo số 08/TB-CAH-ĐTTP ngày 22/01/2018 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Phước N và chuyển hồ sơ cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật. Phòng Tư pháp huyện CT ra Báo cáo kết quả kiểm tra tính pháp lý số 06/BC- PTP ngày 31/01/2018 kết luận hồ sơ đề nghị Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Phước N bảo đảm đúng quy định pháp luật về thẩm quyền, thời hiệu, đối tượng, trình tự thủ tục, điều kiện pháp lý. Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện CT có văn bản số 24/LĐTBXH ngày 01/02/2018 đề nghị Toà án nhân dân huyện CT áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Phước N với thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh DT. Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện CT giữ nguyên đề nghị, không thay đổi bổ sung. Người bị đề nghị Lê Phước N thừa nhận hành vi vi phạm, thừa nhận đã sử dụng ma tuy nhiều lần, xin giảm thời gian đi cai nghiện bắt buộc.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến: Thống nhất với trình tự thủ tục thụ lý, giải quyết vụ việc; thống nhất với đề nghị của Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện CT về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Phước N từ 12 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh DT.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, kiểm sát viên và người bị đề nghị. XEÙT THAÁY Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Phước N thuộc thẩm quyền xem xét, quyết định của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014. Thời hiệu đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp với quy định tại điểm d khoản 2 điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013. Thẩm quyền, trình tự thủ tục lập hồ sơ đề nghị, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đề nghị, đối tượng đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc phù hợp với các qui định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Điều 8 và Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013, Điều 1 Nghị định 136/2016/ NĐ-CP ngày 09/9/2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Lời khai của người bị đề nghị phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ đề nghị. Qua đó, có đủ cơ sở xác định ông Lê Phước N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị UBND xã TPT ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương nơi cư trú với hình thức tự điều trị cai nghiện tại gia đình trong thời gian 03 tháng, nhưng mới chỉ chấp hành được 01 tháng 16 ngày thì Lê Phước N lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an huyện CT phát hiện lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 18/01/2018 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 13/01/2018 tại ấp TP, xã TPT, huyện CT, tỉnh DT. Trung tâm Y tế huyện Châu Thành tiến hành xét nghiệm kết quả xác định ông Lê Phước N có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng: dương tính với Methamphetamine (MET), chất kích thích tổng hợp. Như vậy, UBND xã TPT ra quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương nơi cư trú đối với ông Lê Phước N để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các thủ tục lập hồ sơ để nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Phước N là đúng quy định pháp luật. Theo Danh mục ban hành kèm Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ, được bổ sung bởi Nghị định 126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015, thì Methamphetamine là một trong những chất ma túy bị hạn chế sử dụng trong đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế phải theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.
Xét thấy, ông Lê Phước N có nơi cư trú ổn định, là người đã thành niên, có đủ trình độ hiểu biết và năng lực hành vi để nhận thức được Methamphetamine là chất ma tuý độc hại, nguy hiểm cho sức khoẻ, tính mạng, bị Nhà nước nghiêm cấm sử dụng trái
phép. Ông Lê Phước N đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã nơi cư trú về hành vi sử dụng ma tuý, nhưng vẫn không tự giác cai nghiện, rèn luyện lối sống sinh hoạt lành mạnh mà lại tiếp tục sử dụng ma túy, nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu cực, thói hư tật xấu. Hành vi của ông Lê Phước N đã vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi này ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, đời sống của ông Lê Phước N, đến gia đình ông Lê Phước N, cộng đồng và xã hội, cũng là nguyên nhân phát sinh những vi phạm pháp luật khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Từ những phân tích trên cho thấy vi phạm pháp luật của ông Lê Phước N đủ căn cứ, điều kiện để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để ông Lê Phước N có cơ hội được cai nghiện, phục hồi sức khỏe, rèn luyện thể chất, lối sống lành mạnh, trở thành một công dân có ý thức chấp hành pháp luật tốt hơn, đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong việc đấu tranh phòng chống tệ nạn nghiện ma túy và vi phạm pháp luật khác. Ý kiến đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị, của Kiểm sát viên tại phiên họp là đúng đối tượng và phù hợp mức độ, tính chất vi phạm pháp luật của ông Lê Phước N. Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính qui định: “1. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định ”. Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, được sửa đổi bổ sung theo Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quy định: “1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.” Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: ông Lê Phước N tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Vì các lẽ trên; QUYEÁT ÑÒNH Căn cứ: - Các Điều: 3, 16, 19, 22, 23, 29, 30, 31 của Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014; - Điểm d khoản 2 Điều 6, Khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 107, Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
- Điều 3, Điều 8 và Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; - Khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Phước N. 2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị nghiện tỉnh DT. 3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định này, người bị đề nghị (Lê Phước N), cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này theo quy định pháp luật. 4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Cơ quan thi hành
quyết định: Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Đồng Tháp) phối hợp với Công an huyện Châu Thành (tỉnh Đồng Tháp). THAÅM PHAÙN Nôi nhaän: - Ông Lê Phước N; - Công an huyện Châu Thành; - Phòng LĐTBXH huyện Châu Thành; - Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp; - UBND xã TPT; - Viện KSND huyện Châu Thành; - Lưu HS. Nguyễn Quốc Hưng