- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "t/c QSDĐ"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 114/2020/QĐST-DS ngày 25/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Số: 03/2021/QĐ-PT | Cần Thơ, ngày 04 tháng 02 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Tuấn Quốc.
Các Thẩm phán: 1/- Bà Trương Thị Liên.
2/ Bà Huỳnh Thị Bích Vân.
Thư ký phiên họp: Bà Đinh Huỳnh Thái Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên họp: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 114/2020/QĐST-DS ngày 25 tháng 9 năm 2020.
Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ đã căn cứ vào các Điều 48, Điều 217, Điều 218, Điều 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:
* Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn H. sinh năm: 1966. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
* Bị đơn: Ông Huỳnh Văn N. sinh năm: 1967. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phan Kim M. sinh năm: 1968.
2. Chị Huỳnh Thị Thúy L. sinh năm: 1989.
3. Anh Huỳnh Văn S. sinh năm: 1990.
4. Anh Huỳnh Văn Sửa E. sinh năm: 1998.
5. Bà Nguyễn Thị D. sinh năm: 1975.
6. Anh Huỳnh Minh L1. sinh năm: 1995.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
7. Anh Nguyễn Phúc Nh. sinh năm: 1984. Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
8. Công ty TNHH U. Địa chỉ: đường Đ, KCN S, thị xã D, tỉnh Bình Dương.
Tại đơn kháng cáo ngày 28/9/2020 của ông Huỳnh Văn H và Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 24/QĐKNPT-VKS-DS ngày 01/10/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C đề nghị cấp phúc thẩm xem xét hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 114/2020/QĐST-DS ngày 25/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tiếp tục giải quyết lại vụ án. Với lý do: việc đình chỉ giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm không đúng pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên phúc thẩm giữ nguyên quyết định kháng nghị, cho rằng: Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 24/2016/QĐST-KDTM ngày 27/12/2016 là quyết định về kinh doanh thương mại, không phải là tranh chấp về quyền sử dụng đất. Ông N sử dụng phần đất thuộc quyền của ông H là xâm phạm quyền lợi của ông H, nên ông H có quyền khởi kiện yêu cầu ông N trả lại đất. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết trong trường hợp này là không đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ vụ án nói trên của Tòa án nhân dân huyện C.
XÉT THẤY
Ông Huỳnh Văn H khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn N trả lại diện tích đất 720m2 thuộc thửa 1219, tờ bản đồ số 3, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00700 ngày 14/9/2006 do ông đại diện hộ gia đình cùng vợ là bà Phan Kim M đứng tên; đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ vì gia đình ông N đang chiếm sử dụng phần đất này. Vì vậy ngày 03/4/2019 ông khởi kiện ông N và được Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án ngày 19/4/2019.
Quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, đo đạc định giá tài sản tranh chấp thì phát hiện phần đất tranh chấp đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện C kê biên phát mãi để thi hành án theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 24/2016/QĐST-KDTM ngày 27/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện C đã có hiệu lực pháp luật.
Do đó, ngày 25/9/2020 Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số: 114/2020/QĐST-DS với lý do: việc ông H yêu cầu ông Huỳnh Văn N trả lại diện tích đất 720m2 thửa đất 1219, tờ bản đồ số 3, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00700 do ông H đại diện hộ đứng tên thuộc trường hợp sự việc đã giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét rằng, ông Huỳnh Văn H khởi kiện cho rằng phần đất có diện tích 720m2 nói trên là của gia đình ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, nhưng ông Huỳnh Văn N đang quản lý sử dụng là xâm phạm đến quyền lợi của gia đình ông, yêu cầu Tòa án buộc ông N phải trả lại đất cho ông. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất-Đòi lại quyền sử dụng đất” theo khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng thẩm quyền.
Ngày 03/8/2013, ông H ủy quyền cho con rễ là anh Nguyễn Phúc Nh được toàn quyền sử dụng và thế chấp phần đất này cho Công ty TNHH U để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của anh Nh theo hợp đồng mua bán thức ăn gia súc số 13048/NURI-HĐMB ngày 01/8/2013 với Công ty. Năm 2016 do anh Nh vi phạm nghĩa vụ, nên Công ty khởi kiện yêu cầu anh thanh toán nợ. Tòa án nhân dân huyện C giải quyết và ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 24/2016/QĐST-KDTM ngày 27/12/2016 với nội dung: Ông Nh đồng ý trả cho Công ty số tiền 144.113.570 đồng, nếu ông Nh không trả được nợ thì Công ty được quyền bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Trên cơ sở đó, Chi cục thi hành án huyện C đã tiến hành thủ tục kê biên phát mãi tài sản để thi hành án quyết định trên.
Như vậy, tài sản tranh chấp đã được giải quyết trong Quyết định số 24/2016/QĐST-KDTM ngày 27/12/2016, sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định theo điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự.
Kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn H và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện C không có căn cứ, nên không được chấp nhận.
Căn cứ vào Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
1. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 114/2020/QĐST-DS ngày 25/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C.
2. Ông Huỳnh Văn H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, chuyển 300.000đ theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 013305 ngày 28/9/2020 thành án phí phúc thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND.TPCT. - TAND huyện C. - THA huyện C. - Lưu (HS-2b). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp Trần Tuấn Quốc |