vanban.org

Quyết định 03/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Đức T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Lù Đức T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định số 03 áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện Bắt buộc đối với Lù Đức T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Đức T.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ M
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/QĐ-TAMường Lay, ngày 23 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đao Thị Bích Thảo

2. Thư ký phiên họp: Ông Vũ Đình Hiếu

Ngày 23/4/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thị xã M, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân Thị xã M tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 03/QĐ-TA ngày 16/4/2024 đối với:

Họ và tên: Lù Đức T (Tên gọi khác: không) Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/12/199X; Số CCCD 012XXXXXXXXX do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 07/9/2022; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Nguyên quán: Xã L, huyện N, tỉnh Lai Châu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản N1, phường N2 Thị xã M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Không; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, Ngày 27/9/2017 bị Toà án nhân dân Thị xã M xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành án xong và được xoá án tích; Con ông Lù Văn Th (Đã chết) và bà Mào Thị T. Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lưu Đức Tuấn, chuyên viên phòng Lao động Thương binh và Xã hội Thị xã M, tỉnh Điện Biên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã M, tỉnh Điện Biên: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Lù Đức T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2015, có nơi cư trú ổn định tại Bản N1, phường N2, Thị xã M, tỉnh Điện Biên. Ngày 14/3/2024 Lù Đức T đã tự nguyện làm đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện ma tuý.

Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 15/3/2024 của Trạm Y tế xã H, huyện M, tỉnh Điện Biên thể hiện Lù Đức T nghiện ma túy, loại chất ma túy là Heroine.

Công an phường N2, Thị xã M đã thông báo cho Lù Đức T thực hiện đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày 15/3/2024. Tuy nhiên hết thời hạn nêu trên Lù Đức T vẫn không thực hiện đăng ký cai nghiện ma túy.

Ngày 22/3/2024 UBND xã Phường N2, Thị xã M, tỉnh Điện Biên đã lập biên bản vi phạm về việc không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện đối với Lù Đức T.

Ngày 04/4/2024 UBND Phường N2, Thị xã M, tỉnh Điện Biên có văn bản số 01/ĐN-CNBB đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Đức T.

Ngày 11/4/2024 Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Thị xã M có văn bản số 117/ĐN-CNBB về việc đề nghị, xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Đức T.

Ý kiến của Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Thị xã M tại phiên họp:

Lù Đức T nghiện ma túy từ năm 2015, là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 15/3/2024 Lù Đức T được xác định là nghiện ma túy và đã được thông báo đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Tuy nhiên khi nhưng hết thời hạn quy định Lù Đức T vẫn không đi đăng ký cai nghiện tự nguyện. Lù Đức T thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy. Do đó, đề nghị Toà án nhân dân Thị xã M xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lù Đức T đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm - Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Điện Biên; địa chỉ: C1, xã Thanh Luông, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Thời hạn đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là từ 16 đến 24 tháng.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát Thị xã M tại phiên họp:

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ và quá trình giải quyết của Toà án đối với việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Đức T là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân Thị xã M thụ lý và giải quyết hồ sơ đề nghị đúng thẩm quyền. Thẩm phán, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý hồ sơ cho đến khi mở phiên họp đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Người bị đề nghị Lù Đức T đã được bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Xét thấy có đủ căn cứ pháp lý đề nghị Tòa án nhân dân Thị xã M áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lù Đức T đi cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 16 đến 24 tháng.

Người bị đề nghị Lù Đức T thừa nhận nghiện ma túy lâu năm và đã vi phạm quy định về đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Vì vậy nhất trí đi cai nghiện bắt buộc theo đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Thị xã M. Tuy nhiên Lù Đức T cũng đề nghị Tòa án xem xét áp dụng thời hạn cai nghiện ở mức thấp nhất theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội để bản thân cố gắng rèn luyện, sớm cai nghiện thành công.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu, đã được thẩm tra tại phiên họp. Căn Cứ vào kết quả phân tích tình trạng nghiện ma túy của Lù Đức T tại phiên họp. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, cơ quan đề nghị.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Thị xã M đối với Lù Đức T đã đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ, tình trạng nghiện ma túy của Lù Đức T:

Lù Đức T là người thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định. Lù Đức T nghiện ma túy từ năm 2015, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy làm ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân, hạn chế khả năng lao động, giảm sút kinh tế gia đình và ảnh hưởng đến an ninh trật tự địa phương trong lĩnh vực quản lý hành chính. Ngày 15/3/2024 Tư được xác định kết quả là nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định. Xét thấy T không đủ khả năng để tự cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng, hành vi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện đã vi phạm khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý cai nghiện ma túy. Với hành vi vi phạm trên, Lù Đức T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Lù Đức T có nhân thân xấu, ngày 27/9/2017 bị Toà án nhân dân Thị xã M xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành án xong và được xoá án tích, bản thân không có tiền sự. Trong quá trình lập hồ sơ, xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính Lù Đức T đã tự nguyện khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Lù Đức T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính.

Về mức độ nhận thức của người bị đề nghị:

Lù Đức T thừa nhận nghiện ma túy, nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và đời sống xã hội. Bản thân Lù Đức T cũng mong muốn cai nghiện tuy nhiên việc tự cai nghiện tại cộng đồng không hiệu quả. Lù Đức T nhất trí với ý kiến của cơ quan đề nghị về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động Thương binh và xã hội Thị xã M, đại diện Viện kiểm sát nhân và bản thân người bị đề nghị đều nhất trí đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Đức T, thời hạn từ 15 đến 24 tháng. Các ý kiến của những người tham gia phiên họp là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Xét thấy để Lù Đức T cai nghiện ma túy, học tập, rèn luyện và lao động trở thành công dân khỏe mạnh, sống có ích cho gia đình và xã hội thì cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Đức T theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Vì các lẽ trên,

- Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

- Căn cứ khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5, điểm d khoản 2 Điều 6, Khoản 2 Điều 9, Điều 95, Khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Căn cứ các Điều 3, Điều 30, Điều 31, Điều 32, Điều 34 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Đức T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Lù Đức T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Thị xã M có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân Thị xã M có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Thị xã M và Công an Thị xã M, tỉnh Điện Biên có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ