vanban.org

Quyết định 03/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Liêu L"
  • Căn cứ chính? Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H N M T
T NH
T N
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/QĐ-TAM T , ngày 10 tháng 02 năm 2020

Q ẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN H N M T T NH

T N

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: ng Nguyễn Hoàng Lâm.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Kim Yến.

Ngày 10 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M Tú, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 03/QĐ-TA ngày 04 tháng 02 năm 2020, đối với:

- Họ và tên: Liêu L; Giới tính: Nam;

- Sinh năm 2000;

- CMND số: 366355xxx; Ngày cấp: 03-7-2018; Nơi cấp: Công an tỉnh Sóc Trăng;

- Dân tộc: Khmer;

- Tôn giáo: Phật giáo;

- Trình độ văn hóa: 11/12;

- Nguyên quán: Xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng;

- Hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng;

- Chỗ ở: Ấp Đ, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng;

- Nghề nghiệp: Làm thuê;

- Tiền án: Không;

- Tiền sự:

Vào ngày 19-11-2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn là 03 tháng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Con ông: Liêu L1 và bà: Lâm Thị P;

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: ng Phan Văn Đ - Phó trưởng phòng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M T , tỉnh Sóc Trăng: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤ :

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Liêu L có hành vi vi phạm như sau:

Lần 1: Vào ngày 11-11-2019, L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, sau đó bị Công an huyện M kết hợp với Công an xã P, huyện M mời làm việc và xét nghiệm nước tiểu. Kết quả là L dương tính với chất Methamphetamine và bị lập biên bản vi phạm hành chính. Đồng thời, Công an xã đưa L đến Trạm y tế xã để xác định tình trạng nghiện ma túy và kết quả là nghiện chất Methamphetamine. Công an xã P lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với L. Đến ngày 19-11-2019, L bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 730/QĐ-UBND, với thời hạn là 03 tháng, từ ngày 19-11-2019 đến ngày 19-02-2020.

Lần 2: Vào ngày 04-01-2020, L tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an huyện M kết hợp với Công an xã P, huyện M mời lên làm việc và xét nghiệm nước tiểu. Kết quả cho thấy, L lại dương tính với chất Methamphetamine và bị lập biên bản vi phạm hành chính. Đồng thời, Công an xã P đưa L đến Trạm y tế xã để xác định tình trạng nghiện ma túy và kết quả là nghiện chất Methamphetamine.

Cũng trong ngày 04-01-2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P ra quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, đồng thời lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L.

Tại phiên họp:

Đại diện ơ quan đề nghị hòng Lao động, Thương inh và hội huyện M có ý ki n: L bị nghiện ma túy, đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng, nhưng trong thời gian này, L v n tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và v n còn nghiện. Căn cứ Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (gọi tắt là Nghị định số 221/2013/NĐ-CP) và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định số 136/2016/NĐ-CP) thì L thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Vì vậy, đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L, với thời hạn là 18 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M T , tỉnh Sóc Trăng có ý ki n: Từ khi thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L cho đến nay, Tòa án đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Mặt khác, L đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, nhưng trong thời gian này v n còn nghiện và tiếp tục sử dụng ma túy. Theo quy định tại Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP thì L thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 3; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 95; Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện M, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L, với thời hạn là 18 tháng.

XÉT THẤ :

1. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Liêu L:

- Các tài liệu, giấy tờ có trong hồ sơ đề nghị đầy đủ về số lượng, thành phần, phù hợp về thể thức và nội dung theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 2 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP.

- Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính là phù hợp với quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

- Đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 5, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP.

- Thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp với quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

- Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp với quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều Nghị định số 221/2013/NĐ-CP.

2. Về đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện M, về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Liêu L, Tòa án thấy r ng:

Đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Liêu L là người từ đủ 1 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng v n sử dụng và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng. Tuy nhiên, trong thời gian này, L lại vi phạm, tiếp tục sử dụng và còn nghiện ma túy, là thuộc các tình tiết tăng nặng “vi phạm hành chính nhiều lần, tái phạm và “vi phạm trong th i gian đang ch p hành quy t định áp d ng iện pháp xử lý vi phạm hành chính theo điểm b, điểm h khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Bên cạnh đó, L cũng có tình tiết giảm nh , đó là sau khi vi phạm đã tự nguyện khai báo là thuộc tình tiết giảm nh “ngư i vi phạm hành chính đ t nguyện khai áo theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định:

“1. Đưa vào cơ sở cai nghiện ắt uộc là iện pháp xử lý hành chính áp d ng đối với ngư i có hành vi vi phạm quy định tại Điều 96 của Luật này để chữa ệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới s quản lý của cơ sở cai nghiện ắt uộc.

2. Th i hạn áp d ng iện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ắt uộc từ 12 tháng đ n 24 tháng .

Khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định như sau:

“Đối tượng áp d ng iện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ắt uộc là ngư i nghiện ma t y từ đủ 18 tuổi trở lên đ ị áp d ng iện pháp giáo d c tại x , phư ng, thị tr n mà vẫn còn nghiện hoặc chưa ị áp d ng iện pháp này nhưng không có nơi cư tr ổn định .

Như vậy, đối chiếu hành vi vi phạm của L với các quy định nêu trên, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nh và nhân thân của L khi vi phạm, Tòa án thấy cần thiết phải đưa L đi chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Do đó, Cơ quan quan đề nghị là Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện M và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M Tú đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L, với thời hạn 18 tháng là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

Q ẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Liêu L.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xem xét, giải quyết lại.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng và Phòng Lao động, Thương binh và xã hội huyện M, tỉnh Sóc Trăng. N i nh n:

TH M HÁN

- Người bị áp dụng;

- Trưởng Công an huyện M;

- Trưởng phòng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện M;

- UBND xã P, huyện M;

- VKSND huyện M Tú;

- Lưu hồ sơ.

Ngu n Hoàng m

Cỡ chữ