- Tranh chấp gì? "Nguyên Thị H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị H, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1998, hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ (nay là xã N), huyện N, tỉnh Nam Định vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.
- Căn cứ chính? Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/QĐ-TA | Lập Thạch, ngày 14 tháng 01 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT,TỈNH VĨNH PHÚC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Kim Thị Ánh V
2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Kim Dung
Ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh ngày 12/01/1998; Số CCCD: 036198012244, ngày cấp 20/01/2023, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC và TTXH; Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ (nay là xã N), huyện N, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: Lang thang (không có nơi cư trú ổn định); Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.Tiền án, tiền sự: Không.
Con ông: Nguyễn Huy G (đã chết) và bà Bùi Thị Y.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đỗ Thị H1- Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện L.
+ Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Chí D- Chức vụ: Chuyên viên Phòng L (Theo văn bản ủy quyền ngày 02/01/2025)
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT: Bà Vũ Thị Phương Thanh-Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Thị H là đối tượng nghiện ma túy, vào hồi 17 giờ 15 phút, ngày 26/12/2024 Công an xã B, huyện L khám xét người, chỗ ở của Nguyễn Quang H2, sinh năm 1982 ở thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý thì phát hiện H đang có mặt tại nhà H2. Qua làm việc H trình bày H là bạn gái của H2 đến nhà H2 chơi và sử dụng trái phép chất ma túy cùng H2 từ ngày 16/12/2024 đến ngày 26/12/2024. Công an xã lập biên bản ghi nhận sự việc và đưa H về trụ sở Công an xã B, tiến hành lấy lời khai và thu mẫu để xét nghiệm nước tiểu của H. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 26/12/2024 của Trạm Y tế xã B, huyện L xác định H có nghiện ma túy loại Methamphetamine. Công an xã B đã lập biên bản giải thích về quyền đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc viện thay thế theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ nhưng H từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ủy ban nhân dân xã B tiến hành lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện đối với H. Ngày 26/12/2024 Ủy ban nhân dân xã B ra Quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 27/12/2024 đã bàn giao H cho Cơ sở cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc quản lý. Đối với Nguyễn Quang Hiển H3 đang bị tạm giam trong vụ án Mua bán trái phép chất ma tuý của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L.
Tại bản tường trình và biên bản lấy lời khai H thể hiện: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2022, hình thức sử dụng là hít, tần suất sử dụng hai ngày/lần, lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 25/12/2024. H thường lang thang ở nhiều nơi khác nhau không có địa chỉ cư trú cụ thể, không đăng ký tham gia cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã nơi đăng ký cư trú hoặc bất kỳ nơi nào.
Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện L đề nghị Tòa án nhân dân huyện LT xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc, thời hạn từ 17 tháng đến 19 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT đề nghị Tòa án nhân dân huyện LT căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 49, 59 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc, thời hạn từ 17 tháng đến 19 tháng.
Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp và có đơn xin vắng mặt, tuy nhiên trong biên bản ghi lời khai và bản tường trình đã thừa nhận hành vi sử dụng ma túy trái phép và xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, thấy rằng:
Về tính hợp pháp của hồ sơ: Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại các Điều 40, 41, 42 và 43 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị áp dụng: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm lan tràn tệ nạn ma túy trong cộng đồng, gây tác động tiêu cực đến quá trình đấu tranh về tệ nạn ma túy trong xã hội. Mặc dù, nhận thức rõ tác hại của ma túy cũng như quy định của pháp luật nghiêm cấm sử dụng trái phép chất ma túy nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng bản thân nên H đã nghiện ma túy từ năm 2022 cho đến nay. Tiến hành xác minh tại địa phương nơi H đăng ký thường trú và làm việc với gia đình H, xác định H không có nơi cư trú ổn định, sống lang thang không ở địa phương và gia đình. Đến nay, mặc dù vẫn đang nghiện ma túy, Công an xã đã lập biên bản yêu cầu trong thời hạn 05 ngày phải đến Ủy ban nhân dân xã B để đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng H từ chối, không muốn cai nghiện ma túy tự nguyện, do vậy H thuộc trường hợp “không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện” theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Do vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H để có điều kiện cải tạo bản thân.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại phiên họp H vắng mặt, các tài liệu trong hồ sơ thể hiện H là người nghiện chất ma túy và đã thành khẩn khai nhận về hành vi vi phạm của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính; H không có tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét thấy, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy có tác động rất xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sự phát triển trí tuệ, thể chất của con người, làm suy thoái đạo đức và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm. Do đó việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H như đề nghị của đại diện Phòng L, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT là cần thiết và hoàn toàn phù hợp pháp luật.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 49, 59 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị H, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1998, hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ (nay là xã N), huyện N, tỉnh Nam Định vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện L có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân huyện LT có quyền kháng nghị; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện L phối hợp với Công an huyện L có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - VKSND huyện LT; - Công an huyện LT; - Phòng LĐTB&XH huyện LT; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc; - UBND xã Nam Điền, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN Kim Thị Ánh Vân |