vanban.org

Quyết định 03/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Lương Văn T được đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi Lương Văn T chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Phòng, chống ma túy; Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/QĐ-TAKrông Năng, ngày 12 tháng 01 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1/ Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Đoàn Thị Thu Trang.

2/ Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Lương Công Hà.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 09/2022/QĐ-TA ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với:

Họ và tên: Lương Văn T; Sinh năm 1994; Tại tỉnh C; Giới tính: Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ; Con ông Lương Văn Í và bà Nông Thị N.

(Lương Văn T vắng mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1/ Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk: Ông Đỗ Tiến T; chức vụ: Chuyên viên. (Có mặt).

2/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk: Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên. (Có mặt).

NHẬN THẤY:

Lương Văn T, trú tại: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ là đối tượng nghiện ma túy đang trong quá trình cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình theo quyết định số 124b/QĐ-UBND ngày 31/8/2022 của UBND xã E thì 01/11/2022, tại khu vực thôn T, xã E, Lương Văn T lại có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cơ quan chức năng phát hiện, lập biên bản về việc vi phạm hành chính.

Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 04 tháng 11 năm 2022 của Bệnh viện đa khoa huyện K, tỉnh Đ xác định Lương Văn T là người nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng: Morphin. Như vậy mặc dù đang trong quá trình cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình nhưng Lương Văn T lại tiếp tục sử dụng chất ma túy nên cơ quan chức năng đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với T.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K trình bày: Vào ngày 01/11/2022, Lương Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ, vì vậy Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K căn cứ vào khoản 1 Điều 196 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 4 Điều 1 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy để đưa đối tượng Lương Văn T vào cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk, thời hạn là 24 tháng.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng sau khi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đã đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu đề nghị của Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện K, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn T, thời gian: Từ 18 tháng đến 24 tháng.

Lương Văn T vắng mặt tại phiên họp.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên và những người tham gia phiên họp.

XÉT THẤY:

1. Về tố tụng: Hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Lương Văn T đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật, bảo đảm sự tham gia và quyền lợi của người bị đề nghị, không vi phạm về thời hạn, thời hiệu giải quyết.

2. Về nội dung:

2.1. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của đối tượng Lương Văn T đã vi phạm vào Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 4 Điều 1 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ;

2.2. Về nhận thức: Lương Văn T biết hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, không những ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân mà còn vi phạm trật tự, an toàn xã hội, ma túy cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng vẫn cố ý thực hiện, bản thân Thơ đang bị UBND xã E áp dụng quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình số 124b/QĐ-UBND ngày 31/8/2022, thời gian từ ngày 31/8/2022 - 28/02/2023 nhưng ngày 01/11/2022, tại khu vực thôn T, xã E, Lương Văn T lại có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cơ quan chức năng phát hiện, lập biên bản về việc vi phạm hành chính. Do đó, việc đưa đối tượng Lương Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian thích hợp để được cai nghiện, chữa bệnh, học tập, tái hòa nhập cộng đồng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội là cần thiết.

2.3. Về tình tiết tăng nặng: Không.

2.4. Về tình tiết giảm nhẹ: Lương Văn T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

2.5. Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K là phù hợp nên chấp nhận.

2.6. Xét ý kiến của Phòng Lao động-Thương binh xã hội huyện K về mức đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

- Căn cứ khoản 6, khoản 2 Điều 9; Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 19; Điều 20; Điều 22; Điều 23 và Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ quao16c hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Lương Văn T được đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nơi Lương Văn T chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.

3. Lương Văn T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết, tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K, tỉnh Đ có quyền kiến nghị và Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Công an huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ