- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.
- Căn cứ chính? Điều 10 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/QĐ-TA | C, ngày 05 tháng 02 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Phan Thị Thanh H.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nông Văn Đông.
Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 03/QĐ-TA ngày 30 tháng 01 năm 2024 đối với:
Hà Văn T; giới tính: Nam; sinh ngày 27 tháng 5 năm 1988; căn cước dân: 020088003649, ngày cấp 20 tháng 4 năm 2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; nguyên quán: Xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 05/01/2024 bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính, hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; nhân thân: Ngày 19/9/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Từ SƠn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 14 (mười bốn) táng tù về tooij Tàng trữ trái phép chất ma túy; con ông Hà Văn Đ và con bà Lăng Thị N (đã chết). Hà Văn T vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn: Ông Hoàng Văn T1 - Phó Trưởng phòng.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn: Ông Nông Ngọc Hưng - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Hà Văn T là người nghiện ma túy, ngày 05/01/2024 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị Công an xã H, huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 01/QĐ-XPHC ngày 05/01/2024, hình thức cảnh cáo. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện C đã ban hành Quyết định số: 02/QĐ-UBND ngày 05/01/2024 quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 01 năm kể từ ngày 05/01/2024.
Đang trong thời gian bị quản lý, Hà Văn T lại có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 09/01/2024. Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 09/01/2024 của Công an xã H đối với Hà Văn T cho kết quả dương tính với chất ma túy. Tại phiếu kết quả xác định người nghiện chất ma túy của Trạm y tế xã H, huyện C cho kết quả Hà Văn T nghiện chất ma túy Heroin. Ngày 12/01/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H ban hành quyết định số: 03/QĐ-UBND ngày 12/01/2024 quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 19/01/2024 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện C đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và ban hành thông báo số: 04/TB-UBND ngày 19/01/2024, Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và giao cho gia đình quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Sau khi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện, Hà Văn T đã khai và viết bản tường trình tại Công an xã H, huyện C khẳng định vẫn thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội
- Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn trình bày ý kiến: Đối Hà Văn T có 01 tiền án….; có 01 tiền sự là ngày 05/01/2024 bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; nhân thân: Đã bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, đã chấp phạt xong; đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy Hà Văn T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T. Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Hà Văn T đang bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng tại tiếp tục vi phạm, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Hà Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là từ 18 đến 20 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm xét họp Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 3, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 12, Điều 13, Điều 17, Điều 18, Điều 21 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính; điểm a khoản 1 Điều 33, Điều 40, Điều 42 Điều 43, Điều 44, Điều 46 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, xét thấy có căn cứ đưa Hà văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian chấp hành từ 18 tháng đến 20 tháng theo đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Tuy nhiên Hà Văn T không có tình tiết tăng nặng nên áp dụng mức khởi điểm của khung đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T được thực hiện như sau:
Hồ sơ đề nghị đã có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính gồm: Bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị đầy đủ theo quy định; Biên bản vi phạm đối với Hà Văn T không đăng ký cai nghiện tự nguyện, không đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế. Quyết định số: 10/QĐ-QLNN Quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; các tài liệu chứng minh những hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng Hà Văn T, thể hiện rõ hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy, phù hợp theo quy định tại Điều 95, 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính cùng với bản tường trình của người vi phạm.
Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm. Tính từ ngày 09/01/2024 là ngày Hà Văn T thực hiện hành vi vi phạm lần cuối bị phát hiện thì thời hiệu vẫn đảm bảo phù hợp theo quy định.
Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Hà Văn T là nam giới, sinh ngày 27/5/1988, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính nên đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tại thời điểm Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chính quyền địa phương nơi đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã xác nhận đối tượng Hà Văn T nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện, không đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C và Trung tâm y tế huyện C nên đối tượng đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 12 Điều 2, khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021.
Thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, đối tượng có nơi thường trú ổn định tại xã H, huyện C nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H và Công an xã H có trách nhiệm thu thập tài liệu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T.
Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T là đầy đủ trình tự, thủ tục, đảm bảo hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Hành vi của Hà Văn T là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân Hà Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm các quy định của pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, Hà Văn T đã không tuân thủ các quy định của pháp luật về cai nghiện ma túy tự nguyện, vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm do vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Hà Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 20 tháng. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Hà Văn T gây ra thì cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T trong một thời gian nhất định để Hà Văn T lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Hà Văn T trở thành người công dân có ích cho gia đình, cho xã hội và phòng ngừa chung tội phạm tuy nhiên cũng cần xem xét đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của đối tượng để đưa ra mức áp dụng cho phù hợp. Xét về nhân thân: Hà Văn T có nhân thân xấu do là người ngiện ma túy và liên tục có hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy, năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 15 tháng về tội Trộm cắp tài sản, năm năm 2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng về tội Trộm cắp tài sản; có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; không có tiền án. Về tình tiết tăng nặng: Có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Về tình tiết giảm nhẹ: Hà Văn T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Trên cơ sở xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét thấy mức đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện C và Viện kiểm sát nhân dân huyện C tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105 và Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.
Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 12, Điều 13, Điều 17, Điều 18, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 31, Điều 32, Điều 33 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 33, Điều 40, Điều 42, Điều 43, Điều 44, Điều 46; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: K, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đối với Hà Văn T, sinh ngày 27 tháng 5 năm 1988; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (ngày 05 tháng 02 năm 2024).
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện C, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - Phòng LĐ,TB,XH-DT huyện C; - Công an huyện C; - VKSND huyện C; - UBND xã Hòa Bình, huyện C; - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (đã ký) Phan Thị Thanh Huyền |