- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Ma Thị X bị tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh V Khái Dìn về việc Yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
- Căn cứ chính? Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người; Luật Phá sản
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2026/QĐST-VDS | Tuyên Quang, ngày 20 tháng 4 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ Về việc Yêu cầu tuyên bố một
người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Cử.
Thư ký phiên họp: Ông Linh Đức Minh - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 20/4/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 18/2025/TLST-VDS ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2026/QĐST-DS ngày 06/4/2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: Anh Vàng Khái D, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn M, xã T, tỉnh Tuyên Quang.
Người bị yêu cầu: Chị Ma Thị X, sinh năm 1987; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn M, xã T, tỉnh Tuyên Quang.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 24/9/2025 người yêu cầu là anh Vàng Khái D trình bày: Tôi và chị Ma Thị X, sinh năm 1987 là vợ chồng; chúng tôi có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 30/5/2012 và chúng tôi có 03 con chung là cháu Vàng Phù S, sinh ngày 07/12/2006; Vàng Thị T, sinh ngày 08/10/2008 và Vàng Thị T1, sinh ngày 04/11/2012. Hiện nay các cháu đang do tôi chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tại thôn M, xã T, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống hai vợ chồng chúng tôi không có mâu thuẫn gì. Đến khoảng năm 2016 không biết vì lý do gì chị Ma Thị X bỏ nhà đi từ thời điểm đó đến nay. Trong quá trình chị X bỏ đi tôi và gia đình đã dùng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng không thấy tin tức gì của chị X, nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang, tuyên bố một người mất tích đối với chị Ma Thị X để tôi tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình đối với gia đình và xã hội.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do vậy, tôi chỉ có yêu cầu duy nhất là Yêu cầu tuyên bố chị Ma Thị X, sinh năm 1987 mất tích, ngoài ra tôi không có yêu cầu nội dung gì khác.
Tại phiên họp người có yêu cầu là anh Vàng Khái D vắng mặt, nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án quyết định vẫn tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
Căn cứ khoản Điều 68 của Bộ luật dân sự, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một mất tích của anh Vàng Khái D, tuyên bố chị Ma Thị X mất tích.
Về lệ phí sơ thẩm: Anh D được miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự theo theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 12, Điều 14, khoản 5 Điều 16 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang nhận định:
Về tố tụng: Chị Ma Thị X, sinh năm 1987 có nơi cư trú cuối cùng tại thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là thôn M, xã T, tỉnh Tuyên Quang nên yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh V Khái Dìn đối với chị Ma Thị X thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án.
Về nội dung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc thì chị Ma Thị X có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là thôn M, xã T, tỉnh Tuyên Quang; chị X đã đi khỏi địa phương từ năm 2016 cho đến nay không có tin tức gì. Nội dung này được chứng minh bởi xác nhận của Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang theo biên bản làm việc ngày 22/9/2025 (BL 04); Kết quả xác minh của UBND xã T, tỉnh Tuyên Quang ngày 01/4/2026 (BL 28) đều xác định chị Ma Thị X đi khỏi nơi cư trú từ năm 2016 cho đến nay. Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự xác định ngày có tin tức cuối cùng của chị Ma Thị X là ngày 01/01/2017. Tính đến ngày anh V Khái Dìn có đơn yêu cầu nộp tại Tòa án (ngày 24/10/2025) thì thời gian biệt tích của chị Ma Thị X là 08 năm 09 tháng 23 ngày.
Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và đăng, phát thông báo tìm kiếm đối với chị Ma Thị X trên Báo, Đài của Trung ương 03 lần trong 03 ngày liên tiếp theo quy định tại Điều 384, Điều 385 Bộ luật Tố tụng dân sự; ngày đăng, phát đầu tiên được xác định là ngày 05/12/2025. Hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức gì về chị Ma Thị X. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự, Tòa án có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh V Khái Dìn về việc yêu cầu tuyên bố chị Ma Thị X mất tích.
Về lệ phí: anh Vàng Khái D được miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 12, Điều 14, khoản 5 Điều 16 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 369, 370, 371, 372, 384, 385, 388 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; khoản 2 Điều 12, Điều 14, khoản 5 Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh V Khái Dìn về việc Yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
2. Tuyên bố chị Ma Thị X, sinh năm 1987; nơi cư trú cuối cùng tại thôn M, xã T, tỉnh Tuyên Quang mất tích.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Vàng Khái D được miễn tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND khu vực 4 - Tuyên Quang; - UBND xã T, tỉnh Tuyên Quang; - Phòng THA DS khu vực 4 - Tuyên Quang; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Ngọc Cử |