- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nùng Thị D - Yêu cầu tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nùng Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2026/QĐST-DS | Tuyên Quang, ngày 31 tháng 3 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Củng Lương .
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hồng - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 31/3/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 12/2025/TLST-VDS ngày 30/10/2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2026/QĐST-DS ngày 16/3/2026.
- Người yêu cầu: Bà Nùng Thị D, sinh năm 1962; Địa chỉ Thôn L, xã S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
- Đại diện theo uỷ quyền của người yêu cầu: Bà Hoàng Thị Ngọc Mai, sinh năm 1992 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm giúp pháp lý Nhà nước số 02 tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người yêu cầu: Bà Hoàng Thị Ngọc Mai, sinh năm 1992 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm giúp pháp lý Nhà nước số 02 tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Sú Thị L, sinh năm 1992; Nơi cư trú cuối cùng: thôn L, xã S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp đại diện theo uỷ quyền của người yêu cầu trình bày: Bà Nùng Thị D có con đẻ là Tẩn Văn P, sinh năm 1991, con dâu là Sú Thị L, sinh năm 1992 cùng trú tại thôn L, xã S, huyện M, tỉnh Hà Giang (nay là thôn L, xã S, tỉnh Tuyên Quang), anh P và chị L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010, không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, có với nhau 02 con là Tẩn Ngọc T, sinh ngày 03/01/2012 và Tẩn Thanh M, sinh ngày 25/6/2014. Đến đầu đầu năm 2016 chị Sú Thị L bỏ nhà đi không báo cho gia đình và chính quyền địa phương biết, không biết chị đi đâu và làm gì. Từ khi chị L biệt tích, anh P và gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm như báo cho chính quyền địa phương, thông báo cho bạn bè và người thân đi tìm kiếm chị L nhiều lần, ở nhiều nơi nhưng không thấy tin tức gì về chị Sú Thị L. Đến ngày 31/5/2022 anh Tẩn Văn P bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang cũ tuyên phạt 08 năm tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”, chị L bỏ đi biệt tích, nên hiện tại bà Nùng Thị D đang là người trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cho các cháu T và M. Để đảm bảo quyền lợi cho các cháu T và M trong việc hưởng chính sách bảo trợ xã hội nên bà Nùng Thị D đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Sú Thị L mất tích.
Tại phiên họp, đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu giữ nguyên quan điểm về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Sú Thị L mất tích.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày: Bà Nùng Thị D đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Tẩn Ngọc T, sinh ngày 03/01/2012 và Tẩn Thanh M, sinh ngày 25/6/2014 do bố là anh Tẩn Văn P đang chấp hành án; mẹ là Sú Thị L đã bỏ đi biệt tích từ năm 2016, để đảm bảo quyền lợi cho các cháu T và M trong việc hưởng chính sách bảo trợ xã hội bà D đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Sú Thị L mất tích. Đến nay đã hết thời hạn bốn tháng kể từ ngày đăng phát thông tin đầu tiên mà vẫn không xác định được chị L hiện đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết nên đề nghị Tòa án tuyên bố chị Sú Thị L, sinh năm 1992; nơi cư trú cuối cùng: thôn L, xã S, tỉnh Tuyên Quang. đơn yêu cầu của bà Nùng Thị D.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên họp: Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ việc cho đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, hợp tác tốt với Tòa án. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng không thấy chị Sú Thị L quay về địa phương. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang áp dụng khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; Điều 68 của Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để chấp nhận yêu cầu của bà Nùng Thị D ra quyết định tuyên bố chị Sú Thị L mất tích. Về lệ phí, bà Nùng Thị D là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang nhận định:
[1 Về tố tụng: Đơn yêu cầu của bà Nùng Thị D về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Sú Thị L mất tích được Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội.
Về nội dung việc dân sự: Anh Tẩn Văn P, sinh năm 1991, và chị Sú Thị L, sinh năm 1992 cùng trú tại thôn L, xã S, huyện M, tỉnh Hà Giang (nay là thôn L, xã S, tỉnh Tuyên Quang), chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống có với nhau 02 con là Tẩn Ngọc T, sinh ngày 03/01/2012 và Tẩn Thanh M, sinh ngày 25/6/2014. Đến đầu đầu năm 2016 chị Sú Thị L bỏ nhà đi biệt tích, không biết chị đi đâu và làm gì. Gia đình và chính quyền địa phương đã đi tìm kiếm chị L nhiều lần, ở nhiều nơi nhưng không thấy tin tức gì về chị L, tính đến nay chị L đã biệt tích hơn 10 năm. Đến ngày 31/5/2022 anh Tẩn Văn P bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang cũ tuyên phạt 08 năm tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”, chị L bỏ đi biệt tích, nên hiện tại bà Nùng Thị D đang là người trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cho các cháu T và M. Việc chị L biệt tích đã được Công an và UBND xã S, huyện M, tỉnh Hà Giang (nay là Công an và UBND xã S, tỉnh Tuyên Quang) xác nhận chị Sú Thị L đi khỏi nơi cư trú từ tháng năm 2016 cho đến nay chị L không có mặt tại nơi cư trú và không có tin tức gì về chị Sú Thị L.
Sau khi thụ lý việc dân sự theo đơn yêu cầu của bà Nùng Thị D Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Sú Thị L. Thông báo tìm kiếm chị Sú Thị L đã được Báo Công lý đăng tin trên 03 số báo liên tiếp số 95, 96 và 97 ra các ngày 26, 28/11/2025 và 03/12/2025; Đài nói Việt Nam đã phát tin nhắn tìm chị Thị L trong 03 ngày liên tiếp, phát vào 15 giờ 00 phút đến 16 giờ 00 phút ngày 01, 02, 03/12/2025. Đến nay đã hết thời hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực về chị Sú Thị L còn sống hay đã chết. Từ những nhận định trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của chị Sú Thị L.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nùng Thị D là người dân tộc thiểu số, sinh sống xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 12; khoản 5 Điều 16 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của bà Nùng Thị D.
1. Tuyên bố chị Thị L, sinh năm 1992; Nơi cư trú cuối cùng: thôn L, xã S, tỉnh Tuyên Quang mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nùng Thị D được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định; Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định/.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND KV8, tỉnh Tuyên Quang; - Các đương sự; - UBND xã Sơn Vĩ, Tuyên Quang; - TGVPL; - Lưu hồ sơ VDS, VP. | THẨM PHÁN Củng Trẩn Lương |