vanban.org

Quyết định 03/2026/QĐCNHGT-DS — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 14 tháng 01 năm 2026, cụ thể như sau:

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Vi (viết tắt Ngân hàng) và ông Đào Quốc K, bà Đào Thị H thống nhất thoả thuận như sau: Theo hợp đồng tín dụng số 201802659 ngày 06/9/20218 đã được ký kết giữa Ngân hàng với ông Đào Quốc K, bà Đào Thị H tính đến ngày 31/12/2025 thì: Ông Đào Quốc K, bà Đào… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với ông Đào Quốc Khanh, bà Đào Thị Hiên."
  • Tòa quyết gì? I. Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 14 tháng 01 năm 2026, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2026/QĐCNHGT-DSHưng Yên, ngày 29 tháng 01 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

Căn cứ các điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ vào yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành của người khởi kiện Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V và người bị kiện ông Đào Quốc K, bà Đào Thị H.

Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V.

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 14 tháng 01 năm 2026 về việc thỏa thuận giải quyết toàn bộ tranh chấp của các bên tham gia hòa giải sau đây:

Người khởi kiện: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V.

Địa chỉ trụ sở: số 02, L, phường G, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Chức vụ: Tổng giám đốc - Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Viết C - Chức vụ: Giám đốc - Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N - Chi nhánh B. (Văn bản ủy quyền Quyết định số 2665/QĐ - NHNo ngày 28/11/2024 của Tổng giám đốc - Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V)

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Văn V - chức vụ Giám đốc phòng giao dịch số 2 - Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V - Chi nhánh Bắc T (Văn bản uỷ quyền số 2595/UQ - NHNo. BTB -TH ngày 28/10/2025 của ông Trần Viết C - Chức vụ: Giám đốc - Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn V - Chi nhánh B.

Địa chỉ: Lô 10, Lê Quý Đôn, tổ 10 K, phường T, tỉnh Hưng Yên.

- Người bị kiện: + Ông Đào Quốc K, sinh năm 1962.

+ Bà Đào Thị H, sinh năm 1963.

Đều trú tại địa chỉ: số nhà 05, ngõ 69, tổ 11 - 12, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Đều trú tại địa chỉ hiện nay: số nhà 05, ngõ 69, tổ 11 - 12 T, phường T, tỉnh Hưng Yên.

- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Kết quả hòa giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 14 tháng 01 năm 2026 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

I. Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 14 tháng 01 năm 2026, cụ thể như sau:

1. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Vi (viết tắt Ngân hàng) và ông Đào Quốc K, bà Đào Thị H thống nhất thoả thuận như sau:

Theo hợp đồng tín dụng số 201802659 ngày 06/9/20218 đã được ký kết giữa Ngân hàng với ông Đào Quốc K, bà Đào Thị H tính đến ngày 31/12/2025 thì: Ông Đào Quốc K, bà Đào Thị H còn nợ Ngân hàng gồm: Nợ gốc 444.475.000 đồng; lãi trong hạn 299.619.048 đồng; lãi quá hạn 135.143.085 đồng. Tổng cộng 879.237.133 đồng.

- Ngày 31/12/2025, ông Đào Quốc K, bà Đào Thị H phải trả cho Ngân hàng số tiền 30.000.000 đồng (đã nộp).

- Ngày 06/02/2026, ông Đào Quốc K, bà Đào Thị H phải trả cho Ngân hàng số tiền 50.000.000 đồng.

- Ngày 30/4/2026, ông Đào Quốc K, bà Đào Thị H phải trả hết số tiền còn lại theo Hợp đồng tín dụng 201802659 ngày 06/9/20218 đã được ký kết với Ngân hàng.

- Kể từ ngày 01/01/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ, ông Đào Quốc K và bà Đào Thị H còn tiếp tục trả nợ khoản lãi phát sinh cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng 201802659 ngày 06/9/20218 tương ứng với số tiền nợ gốc chưa thanh toán và thời gian chưa thanh toán.

- Kể từ ngày Quyết định của Toà án có hiệu lực mà ông Đào Quốc K và bà Đào Thị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận nêu trên, Ngân hàng có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 82/02 - 17/HĐTC Ngày 31/5/2017 tại Văn phòng công chứng số 1 tỉnh Thái Bình bao gồm: Diện tích 89,7m2 tại thửa đất số 219 tờ bản đồ số 7 địa chỉ ngõ 14, B, tổ 17, (phường T, thành phố T cũ) nay là phường T, tỉnh Hưng Yên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số L751055, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00644/QSDĐ/23 - QĐ - UB do UBND thị xã Thái Bình, tỉnh Thái Bình cũ cấp ngày 31/3/2000 mang tên ông Đào Đình P. Bà Đào Thị H nhận thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 89,7m2 của bố đẻ ông Đào Đình Phai (Biên bản xem xét thẩm định tài sản thế chấp ngày 13/01/2026. Tài sản thế chấp vẫn ổn định như khi Ngân hàng xem xét thẩm định tài sản để thế chấp tại Ngân hàng)

- Ông Đào Quốc K và bà Đào Thị H phải chịu toàn bộ chi phí cho việc xem xét thẩm định tài sản. Ngân hàng đã chi phí số tiền xem xét thẩm định tài sản, ông Đào Quốc K và bà Đào Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền đã chi phí xem xét thẩm định tài sản.

III. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ