vanban.org

Quyết định 03/2025/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Hờ Mí P.

Tuyên bố bà Sùng Thị S3, sinh năm 1971; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn S, xã S1, huyện Đ, tỉnh H (nay là thông S, xã L, tỉnh T) mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Hờ Mí P được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Người yêu cầu anh Hờ Mí P, người bị yêu cầu bà Sùng Thị S3"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Hờ Mí P.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2025/QĐST-DSTuyên Quang, ngày 12 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Hoàng Thị Vân.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hồng - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 12/9/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 12/2024/TLST-DS ngày 12/11/2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 04/2025/QĐST-DS ngày 27/8/2025.

Người yêu cầu: Anh Hờ Mí P, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn S, xã S1, huyện Đ, tỉnh H (nay là thông S, xã L, tỉnh T). Đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Ngọc C, sinh năm 1982 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (nay là Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2 tỉnh T). Có mặt ông Chung.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người yêu cầu: Ông Hoàng Ngọc C, sinh năm 1982 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (nay là Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước số 02 tỉnh T). Có mặt.

Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Bà Sùng Thị S3, sinh năm 1971; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn S, xã S1, huyện Đ, tỉnh H (nay là thông S, xã L, tỉnh T).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người yêu cầu trình bày: Bố anh Hờ Mí P là ông Hờ Nỏ L (sinh ngày 01/01/1963, dân tộc Mông, thường trú tại thôn S, xã S1, huyện Đ, tỉnh H). Ông Hờ Nỏ L chết ngày 12/8/2016 có Giấy trích lục khai tử số 01/TLKT của Uỷ ban nhân dân xã S1, huyện Đ, tỉnh H. Bố anh P (ông Hờ Nỏ L) và bà Sùng Thị S3, sinh năm 1971 chung sống với nhau tại thôn S, xã S1, huyện Đ, tỉnh H và có với nhau 02 con chung là anh Hờ Mí P và Hờ Mí C1, sinh ngày 05/4/2011. Sau khi bố anh P chết, mẹ anh P (bà Sùng Thị S3) bỏ nhà đi từ năm 2016 đến nay không rõ tung tích. Gia đình anh P đã báo cáo chính quyền địa phương và tìm kiếm nhiều lần nhưng không thấy, không ai có thông tin gì về bà S3 đang ở đâu còn sống hay đã chết. Để đảm bảo quyền lợi cho em là Hờ Mí C1 trong việc hưởng chính sách bảo trợ xã hội anh P đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Sùng Thị S3 mất tích.

Tại phiên họp, người đại diện theo uỷ quyền của người yêu cầu giữ nguyên quan điểm về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Sùng Thị S3 mất tích.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang tham gia phiên họp: Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ việc cho đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, hợp tác tốt với Tòa án. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng không thấy bà Sùng Thị S3 quay về địa phương. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang áp dụng khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; Điều 68 của Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để chấp nhận yêu cầu của anh Hờ Mí P, ra quyết định tuyên bố bà Sùng Thị S3 mất tích. Về lệ phí, anh Hờ Mí P là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang nhận định:

Về tố tụng: Đơn yêu cầu của anh Hờ Mí P về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Sùng Thị S3 mất tích được Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội.

Về nội dung việc dân sự: Anh Hờ Mí P là con ruột của ông Hờ Nỏ L, sinh năm 1963 và bà bà Sùng Thị S3, sinh năm 1971. Ông Hờ Nỏ L chết ngày 12/8/2016. Bố anh P (ông Hờ Nỏ L) và bà Sùng Thị S3, sinh năm 1971 chung sống với nhau tại thôn S, xã S1, huyện Đ, tỉnh H và có với nhau 02 con chung là anh Hờ Mí P và Hờ Mí C1, sinh ngày 05/4/2011. Sau khi bố anh P chết, mẹ anh P (bà Sùng Thị S3) bỏ nhà đi từ năm 2016 đến nay không rõ tung tích. Gia đình anh P đã báo cáo chính quyền địa phương và tìm kiếm nhiều lần nhưng không thấy, không ai có thông tin gì về bà S3 đang ở đâu còn sống hay đã chết. Việc bà Sùng Thị S3 biệt tích đã được Công an xã S1 xác nhận bà S3 đi khỏi nơi cư trú từ năm 2016 cho đến nay bà S3 không có mặt tại nơi cư trú và không có tin tức gì về bà S3. Để đảm bảo quyền lợi cho em trai là Hờ Mí C1 trong việc hưởng chính sách bảo trợ xã hội, anh P đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Sùng Thị S3 mất tích.

Ngày 12/11/2024, sau khi thụ lý việc dân sự theo đơn yêu cầu của bà Lầu Thị Máy Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Sùng Thị S3. Thông báo tìm kiếm bà Sùng Thị S3 đã được Đài tiếng nói Việt Nam đã phát tin nhắn tìm bà Sùng Thị S3 trong 03 ngày liên tiếp, phát vào 13 giờ 25 phút đến 16 giờ 00 phút các ngày 16, 17, 18/12/2024, nhưng không có Báo Công lý thể hiện việc đã đăng tin tìm kiếm đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Sùng Thị S3 (sinh năm 1971; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn S, xã S1, huyện Đ, tỉnh H; nay là thông S, xã L, tỉnh T). Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích Tòa án ban hành quyết định thông báo tìm kiếm lần 2 đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Sùng Thị S3 có thông tin nêu trên. Tại Báo Công lý số 36, 37 và 38 ra các ngày 02, 07 và 09/5/2025 đã đăng tin tìm kiếm đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Sùng Thị S3. Hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày 02/5/2025, Tòa án ra quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự đối với đơn yêu cầu của anh Hờ Mí P theo quy định.

Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu của anh Hờ Mí P về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Sùng Thị S3 mất tích là có căn cứ chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Hờ Mí P là người dân tộc thiểu số, sinh sống xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 12; khoản 5 Điều 16 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của anh Hờ Mí P.

1. Tuyên bố bà Sùng Thị S3, sinh năm 1971; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn S, xã S1, huyện Đ, tỉnh H (nay là thông S, xã L, tỉnh T) mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Hờ Mí P được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ