vanban.org

Quyết định 03/2025/QĐ-TA

TAND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 29/04/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 27, Điều 28, Điều 32 Luật phòng

chống ma túy năm 2021; Điều 3, Điều 8, Điều 18, Điều 20, Điều 21 Điều 23 và Điều 24 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Uỷ ban

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 27, Điều 28, Điều 32 Luật phòng
  • Căn cứ chính? Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2025/QĐ-TA

Tuy Đức, ngày 29 tháng 4 năm 2025

HUYỆN TUY ĐỨC Độc lập – Tự do – Hạnh phúc QUYẾT ĐỊNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN

NHÂN DÂN H

UYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG Với

thành phần tiến hành phiên họp gồm có: 1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: Ông Nguyễn Hồng Nguyên. 2. Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Nguyễn Thảo Trang. Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 03/2025/QĐ-TA ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Thông báo về việc hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 03/2025/QĐ-TA ngày 25 tháng 4 năm 2025, đối với: Sùng A T, sinh ngày 02 tháng 4 năm 1992; nơi sinh: tỉnh Điện Biên; Căn cước công dân số: 011092008429; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ Công an; Nghề nghiệp: Làm nông; Nơi đăng ký thường trú: Bản H, xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên; Chổ ở hiện nay: Tiểu khu 1535, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; Con ông Sùng A K (đã chết) và bà Giàng Thị C, sinh năm 1970. Vắng mặt. Có sự tham gia của: 1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Cao Xuân Thủy – Chức vụ: Trưởng Công an xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tham gia phiên họp: Ông Lê Minh Giáp – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Đối tượng Sùng A Tcó hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực an ninh, trật tự như sau: Sùng A T là người sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 10/2024, ngày 26 tháng 3 năm 2025 Công an xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tiến hành test nhanh ma túy đối với Sùng A T, kết quả dương tính với ma túy Heroin. Quá trình làm việc T khai nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm là vườn điều

thuộc tiểu khu 1535, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; Công an xã Quảng Trực đã phối hợp với Trạm y tế xã Quảng Trực tiến hành xác định tình trạng nghiện ma túy của Sùng A T. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Trạm y tế xã Quảng Trực xác định Sùng A T nghiện ma túy Heroin. Quá trình làm việc Sùng A T khai nhận không có nơi cư trú ổn định, T thừa nhận bản thân nghiện ma túy và bắt đầu sử dụng ma túy từ khoảng tháng 10/2024, tần suất sử dụng ma túy không cố định, trung bình khoảng 3-5 lần/tháng hoặc khi có ma túy sẽ sử dụng, khối lượng ma túy trong một lần sử dụng là không xác định. Tuy nhiên, T thường mua ma túy với giá 300.000 đồng cho một lần sử dụng. Công an xã Quảng Trực đã thông báo về kết quả xác định tình trạng nghiện cho Sùng A T và đề nghị Sùng A T đăng ký cai nghiện tự nguyện. Tuy nhiên quá 05 ngày, tính từ ngày 01 tháng 4 năm 2025 Sùng A T đã không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định. Ngày 10 tháng 4 năm 2025, Ủy ban nhân dân xã Quảng Trực đã lập biên bản vi phạm đối với Sùng A T, về hành vi “Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện tự nguyện” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Tại văn bản số 31/ĐN-CAX ngày 11 tháng 4 năm 2025 của Công an xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sùng A T. Tại phiên họp, đại diện Công an xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sùng A T với thời hạn từ 20 tháng đến 24 tháng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức phát biểu ý kiến: Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sùng A T đúng theo quy định của Luật Phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình thụ lý giải quyết và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật. Sùng A T là người nghiện ma túy, đã thành niên, không có nơi cư trú ổn định, là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình và cộng đồng, tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên đề nghị Toà án căn cứ Điều 3; Điều 8; Điều 12; Điều 17; Điều 19 và Điều 21 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Áp dụng Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 2 Điều 103; Điều 104 và Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng chống ma túy, Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; chấp nhận đề nghị của Công an xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn từ 20 tháng đến 24 tháng đối với Sùng A T.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở, xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Công an xã Quảng Trực, Kiểm sát viên, đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc XÉT THẤY: [1]. Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức đã tiến hành mở phiên họp theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 03/2025/QĐ-TA ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Thông báo về việc hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 03/2025/QĐ-TA ngày 25 tháng 4 năm 2025. Quá trình giải quyết Sùng A T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản nêu trên nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 20 pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt Sùng A T theo quy định của pháp luật. [2]. Xét tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Xét tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị, hồ sơ đề nghị đã đầy đủ bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng vi phạm; bản tường trình của người vi phạm; phiếu trả lời kết quả của người có thẩm quyền về tình trạng nghiện ma túy của người bị đề nghị và tài liệu xác định người nghiện ma túy; văn bản của trưởng Công an xã Quảng Trực về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sùng A T. Như vậy, hồ sơ xét đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của đối tượng Sùng A T đã đầy đủ tính pháp lý đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 [3]. Về nội dung: Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi vi phạm của người bị đề nghị thì thấy: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Sùng A T không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, hạn chế khả năng lao động, giảm sút về kinh tế gia đình, mà hành vi đó còn gây ảnh hưởng đến trật tự trong lĩnh vực quản lý hành chính. Sùng A T là người đã thành niên và có đầy đủ khả năng nhận biết về những hành vi vi phạm của mình và tác hại của ma túy. Mặc dù, trong thời gian qua địa phương và các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên tuyên truyền, phổ biến về tác hại của các chất ma túy nhưng T vẫn không nhận thức và tiếp thu mà vẫn thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 31 tháng 3 năm 2025 được kiểm tra dương tính với Heroin. Kết quả xét nghiệm chất ma túy cho thấy Sùng A T dương tính với chất ma túy Heroin và có nghiện chất ma túy Heroin. Hành vi vi phạm của Sùng A T chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự vì đối tượng chỉ sử dụng trái phép chất ma túy với số lượng ít. Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Quảng Trực thì Sùng A T không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. Như vậy, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Sùng A T đã có đủ căn cứ để áp

dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 1, khoản 2 Điều 1 của Nghị định số: 136/2016 NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ. [4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tình tiết tăng nặng: Sùng A T không có tình tiết tăng nặng Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi vi phạm thì Sùng A T đã tự nguyện khai báo về hành vi vi phạm pháp luật của mình đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính. [5]. Xét đề nghị của Công an xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sùng A T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, địa chỉ: Thôn 2, xã Đắk R’Tíh, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần chấp nhận. [6]. Người đề nghị có quyền kiến nghị, người bị đề nghị có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: 1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, Điều 103, khoản 2 Điều 104, Điều 107, khoản 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 27, Điều 28, Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; Điều 3, Điều 8, Điều 18, Điều 20, Điều 21 Điều 23 và Điều 24 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. 2. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, địa chỉ: Thôn 2, xã Đắk R’Tíh, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông đối với Sùng A T. 3. Thời gian Sùng A T chấp hành cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Sùng A T bị tạm giữ để đưa đi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, địa chỉ: Thôn 2, xã Đắk R’Tíh, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. 4. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Công an xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố

quyết định.

5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 6. Công an xã Quảng Trực; Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, địa chỉ: Thôn 2, xã Đắk R’Tíh, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông có nhiệm vụ thi hành quyết định này.

Cỡ chữ