vanban.org

Quyết định 03/2025/QĐ-TA

TAND huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Tuyên án 14/01/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ;

Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Dương Văn T, sinh năm 2002, nơi th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ;
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
Tỉnh Bến Tre

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2025/QĐ-TAP, ngày 14 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BẾN TRE

Với thành phần tiến hành phiên họp:

- Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lộc.

- Thư ký phiên họp: Ông Phạm Hữu Văn.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bến Tre tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 03/QĐ-TA ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Dương Văn T, Giới tính Nam.

Sinh ngày 20 tháng 5 năm 2002 tại huyện P, tỉnh Bến Tre.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Sửa xe.

Nguyên quán: xã MH, huyện P, tỉnh Bến Tre.

Nơi thường trú: số 38/6, ấp TKA, xã MH, huyện P, tỉnh Bến Tre.

Tiền án: không; Tiền sự: có 01 tiền sự.

Con ông Dương Văn H và bà Lê Thị Ngọc M.

(Ông Dương Văn T có đơn xin vắng mặt)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Văn Phong – Trưởng phòng Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện P.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P: Bà Lê Thị Cẩm Tú - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 06/01/2025 Phòng Lao động -Thương binh và xã hội huyện P có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn T do có hành vi sử dụng chất ma túy, cụ thể như sau:

Ông Dương Văn T thuộc diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 185/QĐ-UBND, ngày 21/10/2024 của Ủy ban nhân dân xã MH. Nhưng trong thời gian quản lý ông Dương Văn T bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy cụ thể vào ngày 20/12/2024 ông T bị Công an xã MH xét nghiệm dương tính với chất ma túy tổng hợp (ma túy đá) dạng Methamphetamine. Căn cứ điểm a, khoản 1, điều 27 Luật phòng, chống ma túy năm 2021, Công an xã MH để nghị Trạm y tế xã MH xác định tình trạng nghiện ma túy đối với ông Dương Văn T. Đến ngày 21/12/2024, Trạm y tế xã MH đã trả lời kết quả xác định tỉnh trạng nghiện ma túy đối với T là nghiện chất ma túy tổng hợp (ma túy đá) dạng Methamphetamine. Ngày 22/12/2024 Công an xã MH đã thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy cho ông Dương Văn T biết để thực hiện các biện pháp cai nghiện theo quy định tại điều 28 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chỉ tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Tuy nhiên đã quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả xác định nghiện ma túy của Công an xã MH nhưng ông T không đến Ủy ban nhân dân xã MH (Nơi cư trú của ông Thăng) để đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định. Hành vi của ông T đã vi phạm tại điểm a, khoản 1 Điều 33 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Căn cứ tại điểm a, khoản 1, Điều 33 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Ngày 31/12/2024 Công an xã MH tiến hành lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với ông Dương Văn T và tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp) đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Dương Văn T.

Ngày 31 tháng 12 năm 2024 Công an xã MH tiến hành làm việc đôi với đại diện gia đình là ông Dương Văn H (Cha ruột của người nghiện Dương Văn T), về hình thức quản lý người nghiện ma túy trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Kết quả ông Dương Văn H không đồng ý quản lý Dương Văn T tại gia đình, với lý do T thường xuyên bỏ nhà, chơi bởi lêu lỏng, gia đình không quản lý được. Đồng thời ngày 31 tháng 12 năm 2024 Ủy ban nhân dân xã MH ra quyết định giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre quản lý người nghiện ma túy trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Dương Văn T.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện P có ý kiến: Do anh Dương Văn T nghiện ma túy từ năm 2024 đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vào ngày 20/12/2024 trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy (21/10/2024 đến 21/10/2025) ông T vẫn vi phạm nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Nay đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Dương Văn T là 12 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P phát biểu quan điểm: Hồ sơ áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn T đã được tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Dương Văn T là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động -Thương binh và xã hội huyện P, tỉnh Bến Tre về việc xem xét xử lý vi phạm hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với anh Dương Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy với thời gian là 12 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn T, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P. Tòa án nhân dân huyện P nhận định:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn T đã thực hiện đúng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, các Điều 95, 96, 103, 104 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính về thời hiệu lập hồ sơ, đối tượng áp dụng, thẩm quyền lập hồ sơ, trình tự lập hồ sơ.

Tại phiên họp, qua đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện P, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P. Xét thấy: ông Dương Văn T sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2024 đến nay, đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vào ngày 20/12/2024 trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy (21/10/2024 đến 21/10/2025) ông T vẫn vi phạm nên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện P, tỉnh Bến Tre đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre là phù hợp với Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Dương Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư. Bản thân Dương Văn T là người đã thành niên, hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, không những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của chính người sử dụng mà còn làm cho họ bị mất đi nghị lực, ý chí vươn lên trong cuộc sống nhưng vẫn cố ý sử dụng ma túy. Lẽ đó, xét thấy việc áp dụng “Biện pháp đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc” là cần thiết tạo điều kiện để ông Dương Văn T sớm hòa nhập cộng đồng.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với Dương Văn T thấy rằng: ông Dương Văn T không có tình tiết tăng nặng; Trong quá trình lập hồ sơ, ông Dương Văn T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, ông Dương Văn T nghiện ma túy từ năm 2024 cho đến nay và đã nhiều lần có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên cần phải có thời gian cai nghiện dài mới giúp ông Dương Văn T chữa bệnh, lao động, học tập để có ý chí vươn lên trong cuộc sống và từ bỏ việc sử dụng ma túy.

Như vậy đã đủ cơ sở xác định: ông Dương Văn T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 9, 95, 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ;

Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Dương Văn T, sinh năm 2002, nơi thường trú: số 38/6, ấp TKA, xã MH, huyện P, tỉnh Bến Tre; Con ông Dương Văn H và bà Lê Thị Ngọc M tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre (địa chỉ: ấp TA, xã TX, huyện BT, tỉnh Bến Tre).

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày 31/12/2024.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

- Dương Văn T được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này.

- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P được quyền kiến nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện P được quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an huyện P, tỉnh Bến Tre và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ