vanban.org

Quyết định 03/2025/HS-GĐT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 08/10/2025 Hình sự Giám đốc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/10/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tụng hình sự; điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-P7 ngày 14/8/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? tụng hình sự; điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định số: 03/2025/HS-GĐT
Ngày 08 tháng 10 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng gồm

có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh – Chánh án.

Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: Ông Trịnh Văn Hùng, ông Nguyễn

Văn Quản, bà Vũ Thị Nguyệt, ông K’Tiêng, ông Vũ Đức Hùng, ông Huỳnh Châu

Thạch, ông Nguyễn Anh Ửng, bà Vũ Thị Thanh Hòa, ông Nguyễn Hồng Thái.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Khang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Ông Vũ Văn Sinh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng mở

phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

Phan Văn T, sinh năm 1997 tại tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng); Nơi

cư trú: Khu phố 10, thị trấn ĐT, Huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (nay là xã H1, tỉnh Lâm

Đồng); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc:

Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn

H2 và bà Bùi Thị H3; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: không.

Tiền án:

1. Ngày 18/4/2019 bị Tòa án nhân dân Huyện Đ xử phạt 09 (chín) tháng tù về

tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 16/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù

ngày 22/11/2019.

2. Ngày 14/5/2021 bị Tòa án nhân dân Huyện T1 xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu)

tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 25/2021/HS-ST, chấp

hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2023.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/10/2024 đến ngày 12/10/2024, tạm giam từ ngày

13/10/2024.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; Địa chỉ: Khu phố 10, thị trấn ĐT, Huyện

Đ, tỉnh Bình Thuận (nay là xã H1, tỉnh Lâm Đồng).

2. Ông Cao Lưu Anh N, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ 5, thôn 1, xã Đ4, Huyện

Đ, tỉnh Bình Thuận (nay là xã H1, tỉnh Lâm Đồng).

3. Ông Phan Văn H2, sinh năm 1969; Địa chỉ: Tổ 5, khu phố 10, thị trấn ĐT,

Huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (nay là xã H1, tỉnh Lâm Đồng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/10/2024, Phan Văn T có ý định sử dụng

ma tuý nên sử dụng mạng xã hội gọi cho người tên H3 (không xác định được nhân thân, lai lịch) mua 1.600.000 đồng ma tuý. Sau khi nhận, T đem ma tuý về nhà của mình rồi lấy một ít ra sử dụng. Số ma tuý còn lại T chia thành từng phần nhỏ không đều bỏ vào 08 gói nylon, trong đó: 02 gói nylon cùng kích thước (3 x 2,3)cm; 03 gói nylon cùng kích thước (2,5 x 2)cm; 02 gói nylon cùng kích thước (2,5 x 1,3)cm và 01 gói nylon kích thước (3 x 1,4)cm và bỏ vào 01 gói nylon kích thước (7 x 4)cm. T luôn mang theo số ma tuý này bên người để khi thuận tiện sẽ lấy ma tuý ra sử dụng.

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/10/2024, T điều khiển xe mô tô hiệu Attila

màu sơn đỏ, biển số 93M1-025.25 của Cao Lưu Anh N đến khu vực xóm Củi, khu phố 9, thị trấn ĐT, Huyện Đ chơi. T dừng xe trên đường đứng bấm diện thoại và cầm số ma túy này trên tay. Khoảng 15 phút sau, T thấy lực lượng Công an thị trấn ĐT đi tuần tra, sợ bị phát hiện nên T ném gói nylon bên trong chứa 08 gói nylon nhỏ chứa ma tuý đá xuống mặt đường Nguyễn Thị Xuân cách vị trí T đang đứng khoảng 0,5m thì bị Công an thị trấn ĐT phát hiện, T hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và đưa T về trụ sở làm việc.

Tại Kết luận giám định số 1305/KL- KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng Kỹ

thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

Mẫu cần giám định: 01 gói nylon, kích thước (7 x 4)cm, có khóa kéo viền

đỏ, bên trong có 08 (tám) gói nylon (gồm 02 gói có khóa kéo viền đỏ, 03 gói có khóa kéo viền xanh, 03 gói được hàn kín), bên trong 08 gói nylon này đều có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M). Kết luận đối tượng giám định: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 1,0440 gam; là Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng giám định: 01 gói nylon kích thước khoảng (7 x 4)cm, có

khóa kéo viền đỏ; 08 gói nylon gồm (02 gói có khóa kéo viền đỏ, 03 gói có khóa kéo viền xanh, 03 gói cắt lấy mẫu) và 0,9493 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 1305, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.

Vật chứng trong vụ án:

- 01 gói nylon kích thước (7 x 4)cm, có khóa kéo viền đỏ; 08 gói nylon gồm

(02 gói có khóa kéo viền đỏ, 03 gói có khóa kéo viền xanh, 03 gói cắt lấy mẫu) và 0,9493 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 1305, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.

- 01 xe môtô hiệu Attila màu sơn đỏ, biển số 93M1-025.25; 01 điện thoại di

động hiệu VIVO, màu xanh trắng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu ông

Cao Lưu Anh N, ông Phan Văn H2.

Tại Cáo trạng số 10/CT-VKSĐL-HS ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát

nhân dân Huyện Đ (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 17 – Lâm Đồng) truy

tố Phan Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c

khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của Tòa án

nhân dân Huyện Đ (nay là Tòa án nhân dân Khu vực M – Lâm Đồng) quyết định:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản

1 Điều 52, các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phan Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành

hình phạt tù tính từ ngày bắt phạm tội quả tang (ngày 04/10/2024).

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật

định.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 01/QĐ-VKS-P7 ngày

14/8/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã kháng nghị

Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của Tòa án nhân dân

Huyện Đ (nay là Tòa án nhân dân Khu vực M – Lâm Đồng) về phần hình sự đối

với bị cáo Phan Văn T; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Lâm

Đồng xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án hình sự sơ thẩm để điều tra, xét xử lại bị

cáo Phan Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o

khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm

Đồng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng chấp nhận kháng

nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đủ cơ sở xác định Tòa án

cấp sơ thẩm tuyên bố Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo

quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên,

trong quá trình xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp

dụng pháp luật như sau:

[1.1] Theo hồ sơ vụ án thể hiện:

Ngày 18/4/2019, Phan Văn T bị Tòa án nhân dân Huyện Đ (nay là Tòa án

nhân dân Khu vực M – Lâm Đồng) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

theo Bản án số 16/2019/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/11/2019.

Đến ngày 19/9/2020, bị cáo Phan Văn T tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội

mua bán trái phép chất ma túy và bị Tòa án nhân dân Huyện T1 (nay là Tòa án

nhân dân Khu vực 16 – Lâm Đồng) xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 25/2021/HSST ngày 14/5/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2023.

[1.2] Như vậy, Phan Văn T đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Lần phạm

tội này bị cáo T tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm điều tra, truy tố và xét xử bị cáo T theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

[2] Do đó, chấp nhận Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-P7 ngày

14/8/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của Tòa án nhân dân Huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân Khu vực M – Lâm Đồng) về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phan Văn T và giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng để điều tra, truy tố lại theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 382, khoản 3 Điều 388, Điều 391, Điều 396 Bộ luật Tố

tụng hình sự; điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-P7 ngày 14/8/2025 của

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

2. Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 26/02/2025

của Tòa án nhân dân Huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân Khu vực M – Lâm Đồng) về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phan Văn T.

3. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng để điều tra

lại theo quy định của pháp luật.

4. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày

ra quyết định.

Cỡ chữ