vanban.org

Quyết định 03/2024/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Đào Ngọc V, về việc: “Xác định con của cha”, tuyên bố: Anh Đào Ngọc V, sinh ngày 26/7/1996 là con ruột của ông Hồ Văn H, sinh năm 1975.

Lệ phí dân sự sơ thẩm: Anh Đào Ngọc V phải chịu số tiền: 300.000 (ba trăm nghìn) lệ phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: 0000215 ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Đào Ngọc V yêu cầu xác định con của cha"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Đào Ngọc V, về việc: “Xác định con của cha”, tuyên bố: Anh Đào Ngọc V, sinh ngày 26/7/1996 là con ruột của ông Hồ Văn H, sinh năm 1975.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LINH
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2024/QĐST-HNGĐVĩnh Linh, ngày 03 tháng 5 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Xác định con của cha

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Đức Minh.

Thư ký phiên họp: Ông Trương Văn Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Linh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh tham gia phiên họp:

Bà Phạm Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 83/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, về việc: “Xác định con của cha”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2024/QĐST - HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Anh Đào Ngọc V, sinh năm 1996; địa chỉ nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Q, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Hồ Văn H, sinh năm 1975; địa chỉ nơi cư trú: Khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Q, có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1974; địa chỉ nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Q, có mặt.

+ Ông Đào Hữu G, sinh năm: 1952, địa chỉ nơi cư trú: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh B, vắng mặt (có đơn đề nghị vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu ngày 16 tháng 4 năm 2024, anh Đào Ngọc V trình bày:

Mẹ anh V là: Nguyễn Thị V, sinh năm 1974 và ông Hồ Văn H có quan hệ tình cảm với nhau, kết quả mẹ anh V sinh ra anh V vào năm 1996. Sau đó, mẹ anh V sống chung với ông Đào Hữu G mà không đăng ký kết hôn từ năm 2000 và để đảm bảo quyền lợi cho anh V nên mẹ anh V đã đăng ký khai sinh cho anh V có mẹ là Nguyễn Thị V và cha là Đào Hữu G.

Ngày 15/3/2024, anh Đào Ngọc V và ông Hồ Văn H đã đi xét nghiệm AND tại Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền - Gentis Hà Nội, địa chỉ: Tầng 82, tòa nhà HCMCC, 249A Thụy Khê, Quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, kết quả: Anh Đào Ngọc V và ông Hồ Văn H có cùng quan hệ huyết thống Cha - Con với độ tin cậy 99,9999%.

Nay, để đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng và làm lại giấy khai sinh của anh V, anh V yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, xác định: Anh Đào Ngọc V, sinh năm: 1996 là con đẻ của ông Hồ Văn H, sinh ngày 1975.

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 19 tháng 4 năm 2024, ông Hồ Văn H trình bày:

Ông Hồ Văn H và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1974 có quan hệ tình cảm với nhau, kết quả bà V mang thai và sinh ra anh Đào Ngọc V vào năm 1996 (tại thời điểm đó ông H và bà V đều là người độc thân). Sau đó, ông H lập gia đình với người khác mà không biết ông V và bà V có con chung là anh Đào Ngọc V. Nay, ông V biết được anh Đào Ngọc V là con đẻ của ông H theo Phiếu kết quả phân tích AND ngày 15/3/2024 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền - Gentis Hà Nội. Vì vậy, để có căn cứ làm lại giấy khai sinh và để đảm bảo các quyền lợi, nghĩa vụ của ông H và anh Đào Ngọc V nên việc anh V yêu cầu Tòa án giải quyết: Xác định ông H là cha đẻ của anh Đào Ngọc V, sinh năm 1996 thì ông H hoàn toàn đồng ý và ông H cũng đề nghị Tòa án xác định: Ông H là cha đẻ của anh Đào Ngọc V, sinh năm 1996.

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 18 tháng 4 năm 2024, bà Nguyễn Thị V, trình bày:

Bà Nguyễn Thị V và ông Hồ Văn H, sinh năm 1975 có quan hệ tình cảm với nhau, kết quả bà V mang thai và sinh ra anh Đào Ngọc V vào năm 1996 (tại thời điểm đó bà V và ông H đều là người độc thân). Sau đó, giữa bà V và ông H không còn liên hệ với nhau và bà V cũng dấu ông H việc bà V và ông H có con chung là anh Đào Ngọc V, sinh năm 1996. Nay anh Đào Ngọc V có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: Xác định anh Đào Ngọc V, sinh năm: 1996 là con đẻ của ông Hồ Văn H, sinh ngày 1975, để có căn cứ làm lại giấy khai sinh cho anh V và để đảm bảo các quyền lợi, nghĩa vụ của ông H và anh Đào Ngọc V thì bà V hoàn toàn đồng ý và cũng đề nghị Tòa án xác đinh: Anh Đào Ngọc V, sinh năm: 1996 là con đẻ của ông Hồ Văn H, sinh ngày 1975.

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 24 tháng 4 năm 2024, ông Đào Hữu G, trình bày:

Năm 1999, ông G và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1974, sống chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Trước khi sống chung với ông G, bà V đã sinh cháu Đào Ngọc V, năm 1996. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi và chăm sóc cháu V, ông G và bà V đã đăng ký khai sinh cho cháu V năm 2015 tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Q, có cha là Đào Hữu G và mẹ là: Nguyễn Thị V (trên thực tế, mặc dù cháu Vĩnh không phải con ruột của ông Giang, nhưng ông Giang đã có công nuôi dưỡng cháu V từ năm 1999 đến năm 2009, đến nay cháu V đã trưởng thành nhưng ông G vẫn quan tâm chăm sóc, dạy dỗ cho cháu V và lo công việc làm cho cháu ở ngoài tỉnh B quê tôi năm 2019-2920).

Nay, cháu V đã thành niên, cháu Vĩnh có quyền quyết định mọi vấn đề của cháu V. Vì vậy, cháu V có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: Xác định cháu Đào Ngọc V, sinh ngày 26/7/1996 là con ruột của ông Hồ Văn H, sinh năm 1975 thì ông G hoàn toàn đồng ý và không có ý kiến gì thêm.

Tại phiên họp:

Anh Đào Ngọc V giữ nguyên yêu cầu; bà Nguyễn Thị V và ông Hồ Văn H giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Ông Đào Hữu G có đơn đề nghị vắng mặt.

Kết quả xét nghiệm AND ngày 15/3/2024, tại: Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền - Gentis Hà Nội, tiến hành phân tích các mẫu AND của hai người sau: “Họ và tên: Hồ Văn H, ngày sinh: 02/02/1975, quan hệ: Cha giả định, loại mẫu: Máu trên giấy FTA, số thẻ căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx và họ và tên: Đào Ngọc V, ngày sinh: 26/7/1996, quan hệ: Con giả định, loại mẫu: Máu trên giấy FTA, giấy khai sinh số: 58/2015, quyển số: 01/2015, nơi sinh: Xã V, huyện V, tỉnh Q……….., kết luận: Có cùng huyết thống Cha - Con với độ tin cậy 99,999%”.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự: Không vi phạm;

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự của anh Đào Ngọc V, ông Hồ Văn H, bà Nguyễn Thị V và ông Đào Hữu G: Không vi phạm;

Về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371 và Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu của anh Đào Ngọc V, về việc: “Xác định con của cha”, tuyên bố: Anh Đào Ngọc V, sinh ngày 26/7/1996 là con ruột của ông Hồ Văn H, sinh năm 1975.

- Về Lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Anh Đào Ngọc V phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Đào Ngọc V, hiện đang cư trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Q, anh V yêu cầu Tòa án giải quyết việc xác định con của cha. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị thụ lý, giải quyết yêu cầu của anh V là đúng thẩm quyền về lãnh thổ và loại việc theo quy định tại khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Đào Hữu G, ông G xin vắng mặt và đã có ý kiến trình bày, vì vậy, việc ông G vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết việc dân sự nên căn cứ vào khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt ông G.

. Về nội dung:

Mẹ anh Đào Ngọc V là: Nguyễn Thị V, sinh năm 1974 và ông Hồ Văn H có quan hệ tình cảm với nhau, kết quả mẹ anh V sinh ra anh V vào năm 1996. Sau đó, mẹ anh V sống chung với ông Đào Hữu G mà không đăng ký kết hôn từ năm 2000 và để đảm bảo quyền lợi cho anh V nên mẹ anh V đã đăng ký khai sinh cho anh V có mẹ là Nguyễn Thị V và cha là Đào Hữu G.

Ngày 15/3/2024, ông Hồ Văn H và anh Đào Ngọc V đã cùng nhau đi xét nghiệm AND, tại: Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền - Gentis Hà Nội, tiến hành phân tích các mẫu AND của hai người sau: “Họ và tên: Hồ Văn H, ngày sinh: 02/02/1975, quan hệ: Cha giả định, loại mẫu: Máu trên giấy FTA, số thẻ căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx và họ và tên: Đào Ngọc V, ngày sinh: 26/7/1996, quan hệ: Con giả định, loại mẫu: Máu trên giấy FTA, giấy khai sinh số: 58/2015, quyển số: 01/2015, nơi sinh: Xã V, huyện V, tỉnh Q……….., Kết luận: Có cùng huyết thống Cha - Con với độ tin cậy 99,999%”.

Tại phiên họp và tại văn bản trình bày ý kiến ngày 19 tháng 4 năm 2024 của ông Hồ Văn H, ngày 18 tháng 4 năm 2024 của bà Nguyễn Thị V, ông H và bà V đều khẳng định: Anh Đào Ngọc V là con chung của ông Hồ Văn H và bà Nguyễn Thị V.

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 24 tháng 4 năm 2024 của ông Đào Hữu G, ông G thừa nhận ông không phải là cha ruột của anh V nhưng ông có công chăm sóc, nuôi dưỡng anh V từ năm 1999 cho đến khi anh V thành niên.

Do vậy, căn cứ vào lời trình bày của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và kết quả xét nghiệm AND nêu trên, có đủ cơ sở để Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh V về việc xác định anh Đào Ngọc V là con ruột của ông Hồ Văn H theo quy định tại các Điều 88, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về tố tụng và quan điểm về giải quyết việc dân sự là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Do anh Đào Ngọc V đã thành niên yêu cầu xác định con của cha nên phải chịu lệ phí giải quyết theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371 và Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu của anh Đào Ngọc V, về việc: “Xác định con của cha”, tuyên bố: Anh Đào Ngọc V, sinh ngày 26/7/1996 là con ruột của ông Hồ Văn H, sinh năm 1975.

- Lệ phí dân sự sơ thẩm: Anh Đào Ngọc V phải chịu số tiền: 300.000 (ba trăm nghìn) lệ phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: 0000215 ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Anh Đào Ngọc V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Ông Đào Hữu Giang vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ