vanban.org

Quyết định 03/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Tuyên án 19/03/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố chị Vừ Thị G - Sinh năm 1990; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn LCT, xã SP, huyện Đ, tỉnh Hà Giang mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Lù Mí N được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 3.044.000 đồng (ba triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), trong đó: 3.000.000 đồng là tiền chi phí đăng, phát thông báo; 44.000… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố MT PS"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố chị Vừ Thị G - Sinh năm 1990; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn LCT, xã SP, huyện Đ, tỉnh Hà Giang mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

––––––––––
Số: 03/2024/QĐST-DS
Đ, ngày 19 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Văn Đàm

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Dung - Thẩm tra viên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lù Mí N - Sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn LCT, xã SP, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. (Có mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vừ Thị G - Sinh năm 1990; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn LCT, xã SP, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Hiện nay vẫn biệt tích.

Người phiên dịch: Chị Sùng Thị Ly - Sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn SPA, xã SP, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. (Có mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu đề ngày 23/10/2023, cùng các tài liệu kèm theo đơn và tại phiên họp, người yêu cầu là anh Lù Mí N trình bày: Anh và chị Vừ Thị G kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 09/6/2016 tại UBND xã Sà Phìn, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung hạnh phúc được khoảng 02 năm. Đến khoảng tháng 7 năm 2018, chị G đã tự ý bỏ đi biệt tích, đến nay không có tin tức gì. Anh đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm như báo cho chính quyền địa phương, thông báo cho bạn bè và người thân hai bên nội, ngoại nhưng đến nay không ai có thông tin gì về việc chị G hiện đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Do vậy, anh làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Vừ Thị G mất tích.

Tại phiên họp, anh Lù Mí N vẫn giữ nguyên quan điểm về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Vừ Thị G mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã tuân thủ theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về giải quyết việc dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm về việc giải quyết việc dân sự: Yêu cầu của anh Lù Mí N về việc tuyên bố vợ mình là chị Vừ Thị G mất tích là có căn cứ. Chị Vừ Thị G đã bỏ nhà đi biệt tích từ tháng 7/2018 đến nay không có tin tức gì, mặc dù anh Nô đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm, Tòa án nhân dân huyện Đ đã tiến hành việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích theo đúng thủ tục tố tụng dân sự nhưng vẫn không xác định được chị Vừ Thị G hiện đang ở đâu, làm gì. Do vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lù Mí N về việc tuyên bố chị Vừ Thị G mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang nhận định:

Về tố tụng: Đơn yêu cầu của anh Lù Mí N về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Vừ Thị G mất tích được Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung việc dân sự: Anh Lù Mí N và chị Vừ Thị G kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 09/6/2016 tại Uỷ ban nhân dân xã Sà Phìn, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Anh chị sống chung hạnh phúc được khoảng 02 năm. Đến tháng 7 năm 2018, chị G đã tự ý bỏ đi biệt tích đến nay không về. Ngày 01/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý đơn yêu cầu của anh Nô về việc tuyên bố chị Vừ Thị G mất tích, đồng thời ngày 01/11/2023, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là chị Vừ Thị G. Thông báo tìm kiếm chị Vừ Thị G đã được đăng trên Báo Công lý ba số liên tiếp: 90 (2152) ngày 10/11/2023; 91 (2153) ngày 15/11/2023; 92 (2154) ngày 17/11/2023 và phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 30 phút trong ba ngày liên tiếp 18, 19 và 20 tháng 11 năm 2023; đăng thường xuyên trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang. Đến nay, đã hết thời hạn bốn tháng kể từ ngày đăng, phát thông tin đầu tiên theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự, mà vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Vừ Thị G ở đâu, còn sống hay đã chết. Do vậy, có đủ căn cứ để chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lù Mí N về việc tuyên bố chị Vừ Thị G mất tích theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về lệ phí: Do anh Lù Mí N là người dân tộc thiểu số, sinh sống xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 12; Điều 14; khoản 5 Điều 16 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích do người yêu cầu là anh Lù Mí N chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Lù Mí N, chị Vừ Thị G được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định theo quy định tại Điều 371 Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự; Điều 370 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 12; Điều 14; khoản 5 Điều 16 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ khoản 2 Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự,

- Tuyên bố chị Vừ Thị G - Sinh năm 1990; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn LCT, xã SP, huyện Đ, tỉnh Hà Giang mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Lù Mí N được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.

- Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 3.044.000 đồng (ba triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), trong đó: 3.000.000 đồng là tiền chi phí đăng, phát thông báo; 44.000 đồng là phí chuyển tiền qua Ngân hàng, do anh Lù Mí N chịu (anh Nô đã nộp đủ để thực hiện việc đăng, phát thông báo).

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Lù Mí N có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; chị Vừ Thị G có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ