vanban.org

Quyết định 03/2024/QĐ-TA

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 29/01/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lê Ngọc T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Lê Ngọc T bị tạm giữ đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 08/01/2024. 3/ Cơ sở tiếp nhận: Trung tâm điều trị ma túy và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam. Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Ngọc Tư đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lê Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ D
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2024/QĐ – TAD, ngày 29 tháng 01 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ D, TỈNH HÀ NAM

Với thành phần phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Đông.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Khánh Vy.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024, tại Trung tâm điều trị nghiện ma tuý và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hồ sơ thụ lý số 03/2024/XLHC ngày 23 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định mở phiên họp số 03/QĐ – TA ngày 23 tháng 01 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Lê Ngọc T, sinh năm 1968, tên gọi khác: Không, nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, thị xã D, tỉnh Hà Nam; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Ngọc V (đã chết) và bà Bùi Thị C (đã chết); vợ: Trần Thị P, sinh năm 1971; con: 02 con, con lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1993;

- Tiền án: Ngày 18/11/2020 bị Toà án nhân dân thị xã D, tỉnh Hà Nam xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 24/5/2022, chưa được xoá án tích;

- Tiền sự: Không;

- Nhân thân: Ngày 26/12/2013 bị Toà án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 26 (hai mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 10/9/2015, đã được xoá án tích.

Hiện đang tạm giữ tại: Trung tâm điều trị nghiện ma tuý và chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam; vắng mặt tại phiên họp (có Đơn xin vắng mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn – Phó trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã D, tỉnh Hà Nam.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh Hà Nam tham gia phiên họp: Bà Ngô Thị Thanh Quý – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Theo hồ sơ và văn bản đề nghị của Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã D, tỉnh Hà Nam đề nghị Toà án nhân dân thị xã D, tỉnh Hà Nam ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T vì có hành vi vi phạm như sau:

Ngày 07/01/2024, Công an xã S nhận được đơn đề nghị của bà Trần Thị P, sinh năm 1971 về việc chồng bà là ông Lê Ngọc T, sinh năm 1968, cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã S, thị xã D, tỉnh Hà Nam có sử dụng ma tuý và không có khả năng cai nghiện ma tuý tự nguyện. Cùng ngày, Công an xã S đã gửi giấy mời số 09 ngày 07/01/2024 mời ông Lê Ngọc T lên trụ sở làm việc. Ngày 08/01/2024, tại trụ sở Công an xã S, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Lê Ngọc T khai nhận ngày 06/01/2024 bản thân có sử dụng trái phép chất ma tuý bằng hình thức: Hút, loại ma tuý sử dụng: Heroine. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 08/01/2024 của Trạm y tế xã S thì Lê Ngọc T có nghiện ma tuý, loại ma tuý sử dụng: Heroine. UBND xã S đã ra Thông báo số 01/TB – UBND ngày 08/01/2024 về thời hạn đăng ký cai nghiện tự nguyện và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nhưng Lê Ngọc T đã có đơn đề nghị không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên UBND xã S lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 08/01/2024 và lập hồ sơ, ra Thông báo số 01/TB – UBND ngày 08/01/2024 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Nghị định số 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện.

Ngày 23/01/2024, Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã D, tỉnh Hà Nam có văn bản số 32/ĐN – CNBB đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T theo quy định của Luật xử lý hành chính năm 2013 và Luật phòng, chống ma tuý năm 2021.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã D, tỉnh Hà Nam đề nghị đưa Lê Ngọc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm điều trị nghiện ma tuý và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam, thời hạn 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D phát biểu ý kiến: Toà án nhân dân thị xã D và các cơ quan chức năng đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật. Đề nghị Toà án chấp nhận áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã D.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào lời trình bày, tranh luận tại phiên họp, Thẩm phán phiên họp nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Ngày 23/01/2024, Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã D có văn bản số 32/ĐN – CNBB đề nghị xem xét đưa Lê Ngọc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, vụ việc thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thị xã D, tỉnh Hà Nam quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013, Luật phòng, chống ma tuý năm 2021 và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân năm 2022.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Căn cứ Biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 08/01/2024 của UBND xã S thì Lê Ngọc T có hành vi nghiện ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện, tính đến thời điểm Toà án thụ lý hồ sơ và mở phiên họp, vụ việc còn thời hiệu luật định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về thủ tục: Lê Ngọc T đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng và quyết định mở phiên họp theo đúng quy định của pháp luật, người bị đề nghị đã có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên Toà án tiến hành phiên họp theo quy định tại Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân năm 2022.

Về nội dung: Căn cứ Biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện và điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 08/01/2024 của UBND xã S, Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 08/01/2024 của Trạm y tế xã S, thị xã D, tỉnh Hà Nam và lời trình bày của Lê Ngọc T, thể hiện Lê Ngọc T có sử dụng chất ma tuý, nghiện ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định Lê Ngọc T có sử dụng ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện. Xét thấy Lê Ngọc T là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm dân sự, năng lực pháp luật hành chính nhưng có hành vi vi phạm pháp luật đó là: Là người nghiện ma tuý, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện nên Lê Ngọc T thuộc đối Tợng cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý. Do đó, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã D căn cứ vào các quy định của pháp luật đề nghị Toà án nhân dân thị xã D áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T là có cơ sở chấp nhận.

Về thời hạn chấp hành cai nghiện bắt buộc: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3, Điều 9, Điều 10 và khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013, áp dụng biện pháp đưa Lê Ngọc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và nhân thân của người bị đề nghị.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 3, Điều 6, Điều 9, Điều 10, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 105 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013.

- Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.

- Điều 3, Điều 20, Điều 24, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022.

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lê Ngọc T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Lê Ngọc T bị tạm giữ đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 08/01/2024.

3/ Cơ sở tiếp nhận: Trung tâm điều trị ma túy và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam. Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho các cá nhân, tổ chức có liên quan biết.

4/ Người bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án, Phòng Lao động Thương binh và xã hội thị xã D có quyền kiến nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D có quyền kháng nghị đối với Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

5/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

6/ Cơ quan thi hành Quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã D; Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam phối hợp với Trung tâm điều trị ma túy và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam có trách nhiệm thi hành quyết định này./.

Cỡ chữ