vanban.org

Quyết định 03/2023/QĐST-VDSHNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Lữ Thị Hiền Tr.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lữ Thị Hiền Tr phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Trđã nộp theo biên lai thu số 0003837, ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "hon nhan gia dinh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Lữ Thị Hiền Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LVÒ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2023/QĐST-VDSHNGĐLấp Vò, ngày 28 tháng 12 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v hủy việc kết hôn trái pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hằng.

Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Khánh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LVò tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Hoàng Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 28/12/2023, tại hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 303/2023/TLST-VDS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật”. Theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự 25/2023/QĐST-VDS, ngày 11/12/2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lữ Thị Hiền Tr, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Số 367, tổ 35, khóm 4, phường 6, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Phan Thị Thu H, sinh năm 1987 (Vắng mặt);

- Anh Trần Ngọc L, sinh năm 1982 (Có mặt);

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Hòa Thuận, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo nội dung đơn yêu cầu, quá trình tố tụng người yêu cầu chị Lữ Thị Hiền Tr trình bày:

Chị Trvà anh Trần Ngọc Llà vợ chồng có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường 6, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/7/2005. Vào đầu năm 2012, anh Lập khởi kiện xin ly hôn do chị Trlý do anh Lập bất đồng quan điểm và tính tình không hợp

Năm 2012, Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã xét xử, theo đó Bản án phúc thẩm: Số 35/2012/HNGĐ-PT ngày 31/7/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã quyết định: Chấp nhận nội dung đơn kháng cáo yêu cầu của chị Trsửa bản án sơ thẩm số: 17/2012/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh và tuyên xử: “Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trần Ngọc Lập”.

Kể từ thời điểm đó, anh Lập không những không quay về sum họp, nối lại tình cảm vợ, chồng cùng có trách nhiệm nuôi dạy con mà anh còn xem thường pháp luật, không tuân thủ Bản án phúc thẩm, không cấp dưỡng nuôi con, đồng thời tiếp tục quan hệ bất chính và đi đến kết hôn với người khác là chị Phan Thị Thu Hạnh, vào năm 2017 (Giấy chứng nhận kết hôn số 121, do Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 20/11/2017). Chị Trđã nhiều lần trực tiếp khuyên can và nhờ cha mẹ, người thân khuyên can nhưng anh Lập đều bất chấp, bỏ ngoài tai. Anh Lập và chị Hạnh cũng thừa biết mối quan hệ vợ chồng giữa chị Trvới anh Lập vẫn tồn tại, Thế nhưng, anh Lập và chị Hạnh vẫn kết hôn với nhau. Đây là hành vi cố ý vi phạm pháp luật quy định về chế độ một vợ, một chồng.

Những năm gần đây, chị Trcó liên hệ Ủy ban nhân dân và Công an xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp để nhờ can thiệp, nhưng tình trạng vi phạm của anh Lập và chị Hạnh vẫn tiếp diễn, không thay đổi. Không những thế, chị Hạnh còn có lời nói, tỏ thái độ thách thức, xem thường pháp luật; đe dọa, xúc phạm danh dự ,uy tín của chị Trvà những người khác (mà chị cho là “xen vào” cuộc hôn nhân của chị với anh Lập).

Nay chị Tryêu cầu Tòa án nhân dân huyện LVògiải quyết: Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Trần Ngọc Lvà chị Phan Thị Thu Hạnh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 121, do Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 20/11/2017.

Tại phiên họp anh Trần Ngọc Ltrình bày: Anh và chị Trlà vợ chồng hợp pháp, có giấy đăng ký kết hôn theo lời trình bày của chị Trlà đúng. Do mâu thuẫn vợ chồng nên vào năm 2012 anh có làm đơn xin ly hôn với chị Trtại Tòa án thị xã Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và được Tòa án giải quyết cho ly hôn. Sau đó, chị Trkhông đồng ý và kháng cáo lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp. Khi Tòa án tỉnh xét xử anh có tham dự phiên tòa, nhưng sau khi xét xử xong anh không có đến nhận Bản án của Tòa án tỉnh Đồng Tháp nên không biết được việc Tòa án tỉnh Đồng Tháp bác đơn ly hôn của anh. Do không hiểu biết pháp luật, nên anh đã mang bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đến Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thạnh, huyện LVòđể đăng ký kết hôn với chị Hạnh. Nay anh nhận thấy việc làm của mình là không đúng, anh đồng ý chấp dứt hôn nhân với chị Hạnh.

Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ việc; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; trình tự giải quyết vụ việc theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình thụ lý, giải quyết Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chủ tọa phiên họp căn cứ Điều 15, Điều 16, Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Chấp nhận yêu cầu của chị Lữ Thị Hiền Tr. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Trần Ngọc Lvà chị Phan Thị Thu Hạnh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 121, do Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 20/11/2017. Buộc anh Lập và chị Hạnh chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm:

Việc anh Trần Ngọc Lchưa ly hôn nhưng lại tiếp tục đăng ký kết hôn với người khác là vi phạm điểm a khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020. Vì vậy, đề nghị Tòa án chuyển hồ sơ đến Cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định.

Việc Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thạnh, huyện LVòđăng ký kết hôn cho người đang có vợ vi phạm Luật hôn nhân gia đình Viện kiểm sát sẽ có kiến nghị riêng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện LVònhận định:

Căn cứ theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Lữ Thị Hiền Tr thì Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Yêu cầu Hủy việc kết hôn trái pháp luật” được quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự. Địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại huyện Lấp Vò, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện LVòtheo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Chị Phan Thị Thu Hạnh có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt chị Hạnh.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của chị Tryêu cầu Tòa án Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Trần Ngọc Lvà chị Phan Thị Thu Hạnh theo giấy chứng nhận kết hôn số 121, do Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 20/11/2017 là có căn cứ, bởi lẽ.

Trước khi đăng ký kêt hôn với chị Phan Thị Thu Hạnh vào ngày 20/11/2017, anh Trần Ngọc Lđã đăng ký kết hôn với chị Lữ Thị Hiền Tr và được UBND phường 6, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 26/7/2005 theo quy định của pháp luật.

Từ ngày 26/7/2005 đến ngày 20/11/2017 giữa anh Trần Ngọc Lvà chị Lữ Thị Hiền Tr chưa được Tòa án có thẩm quyền giải quyết ly hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh Trần Ngọc Lvà chị Lữ Thị Hiền Tr là hoàn toàn hợp pháp. Việc anh Trần Ngọc Lđăng ký kết hôn với chị Phan Thị Thu Hạnh trong khi đang có vợ và chưa ly hôn với chị Lữ Thị Hiền Tr thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Tại khoản 1 Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định những trường hợp cấm kết hôn: “ Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:

1. Người đang có vợ hoặc có chồng;”

Từ những nhận định trên và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp, căn cứ Điều 15, Điều 16, Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Chấp nhận yêu cầu của chị Lữ Thị Hiền Tr. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Trần Ngọc Lvà chị Phan Thị Thu Hạnh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 121, do Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 20/11/2017. Buộc anh Lập và chị Hạnh chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 150, Điều 370, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 10, Điều 15, Điều 16, Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ khỏa 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Lữ Thị Hiền Tr. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Trần Ngọc Lvà chị Phan Thị Thu Hạnh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 121, do Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 20/11/2017. Buộc anh Trần Ngọc Lvà chị Phan Thị Thu Hạnh chấm dứt quan hệ vợ chồng.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lữ Thị Hiền Tr phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Trđã nộp theo biên lai thu số 0003837, ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thống báo, niêm yết.

Viện kiểm nhân dân huyện LVòcó quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ