- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "YCTB1N MT Nhung - Dũng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Mai N: Tuyên bố anh Vùi Xuân D; sinh năm 1987; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ 6, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 16 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2023/QĐST-VDS | Y, ngày 16 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Đoàn Ngọc Vĩnh
Thư ký phiên họp: Bà Hồ Quỳnh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Ma Phúc Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2022/TLST-VDS ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc “yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2023/QĐST-VDS ngày 02 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Mai N; địa chỉ nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Vùi Xuân D; địa chỉ nơi cư trú: Tổ 6, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai ngày 17/10/2022 và tại phiên họp người yêu cầu chị Nguyễn Thị Mai N trình bày: Chị và anh Vùi Xuân D, sinh năm 1987, địa chỉ nơi cư trú trước khi biệt tích tổ 6, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang, qua quá trình tìm hiểu, chị N và anh D được gia đình hai bên tổ chức đám cưới và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y vào năm 2013. Sau khi kết hôn anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Đến tháng 9/2018 anh D tự ý bỏ nhà đi biệt tích, không rõ tung tích. Mặc dù chị N và gia đình hai bên đã tìm kiếm nhiều lần nhưng vẫn không có tin tức gì về anh D. Chị N muốn ổn định cuộc sống nên đề nghị Tòa án tuyên bố anh D mất tích sau đó làm thủ tục ly hôn với anh D.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mai N xác nhận, chị và anh D có một con chung là cháu Vùi Nguyễn Thảo Nh, sinh ngày 03/6/2014. Từ khi anh D bỏ đi cháu Nh ở cùng chị N, chị N đề nghị được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị N xác nhận khi anh D bỏ nhà đi không để lại tài sản gì, giữa chị và anh D không có tài sản chung, công nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý vụ việc theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết việc dân sự Tòa án đã yêu cầu đương sự và đã thu thập tài liệu, chứng cứ để làm cơ sở cho việc giải quyết việc dân sự đúng quy định của pháp luật, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và niêm yết công khai đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, việc giải quyết việc dân sự của Tòa án nhân dân huyện Y là đảm bảo tuân thủ thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các quy định của pháp luật đề nghị Tòa án nhân dân huyện Y chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mai N, tuyên bố anh Vùi Xuân D, sinh năm 1987, nơi cư trú cuối cùng tổ 6, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang nhận định:
Về tố tụng: Anh Vùi Xuân D, sinh năm 1987; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ 6, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang nên đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Mai N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu tuyên bố một người mất tích: Chị Nguyễn Thị Mai N và anh Vùi Xuân D tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Hà Giang năm 2013. Quá trình chung sống anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đến tháng 9/2018 anh D tự ý bỏ nhà đi đến nay đã hơn 04 năm không rõ tung tích. Chị N đã báo cáo chính quyền địa phương và cùng gia đình hai bên tìm kiếm anh D nhiều lần nhưng không có kết quả, không có tin tức gì về anh D hiện nay đang làm gì, ở đâu. Công an thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang xác nhận anh D vắng mặt tại nơi cư trú từ tháng 9/2018 đến nay không có tin tức, không rõ anh D đang làm gì, ở đâu.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mai N, Tòa án nhân dân huyện Y ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 04/2022/QĐ-TA ngày 03/11/2022 đối với anh Vùi Xuân D và niêm yết tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang; trụ sở UBND thị trấn Y và trụ sở nhà văn hóa tổ 6, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang; đồng thời đã được thông báo trên báo Công Lý 03 số liên tiếp ra các ngày 09, 11, 16 tháng 11 năm 2022; được phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp vào 17h30 các ngày 09, 10, 11 tháng 11 năm 2022; ngoài ra Quyết định đã được đăng tải trên trang thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, Tòa án và gia đình vẫn không nhận được tin tức xác thực về việc anh Vùi Xuân D còn sống hay đã chết. Do vậy, yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mai N về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với anh Vùi Xuân D, sinh năm 1987 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự và các Điều 387, 388 và 389 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mai N không yêu cầu, nên Hội đồng giải quyết việc dân sự không xem xét giải quyết.
Về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: Chị Nguyễn Thị Mai N xác nhận anh D bỏ đi không để lại tài sản gì, giữa chị và anh D không có tài sản chung, công nợ chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Mai N là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên họp chị N có đơn xin miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là phù hợp đúng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 361, 369, 370, 371, 372, 387, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Mai N: Tuyên bố anh Vùi Xuân D; sinh năm 1987; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ 6, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho chị Nguyễn Thị Mai N. Trả lại cho chị N 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số: 51BB-21P 0005036 ngày 19/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Hà Giang.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Nguyễn Thị Mai N có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Giang; - VKSND tỉnh Hà Giang; - VKSND huyện Y - Chi cục THADS huyện Y; - Người yêu cầu; - UBND thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký và đóng dấu) Đoàn Ngọc Vĩnh |