vanban.org

Quyết định 03/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Triệu Thị Th:

Tuyên bố: Huỷ bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2020/VDS-ST ngày 13/4/2020 của Toà án nhân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang về việc tuyên bố một người mất tích đối với chị Triệu Thị Th. Bản án số 82/2020/HNGĐ-ST ngày 21/10/2020 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giải quyết việ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Triệu Thị Th:
  • Căn cứ chính? Điều 70 Bộ luật Dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NGẠN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2023/QĐST-VDSLục Ngạn, ngày 05 tháng 05 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Đức Nhường

Thư ký phiên họp: Bà Diệp Thu Trang – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên họp: Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn mở phiên họp sơ thẩm công kH giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2023/TLST-VDS ngày 24 tháng 4 năm 2023 về việc “Yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp số: 05/2023/QĐPH-VDS ngày 27 tháng 4 năm 2023.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Triệu Thị Th, sinh năm 1978. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Văn H, sinh năm 1977. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Triệu Thị Th trình bày:

Chị là vợ của anh Dương Văn H, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào năm 1996. Sau khi kết hôn cả H cùng về tại thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang chung sống. Vào cuối năm 2015 chị do tinh thần bất an và chán nản nên chị bỏ đi khỏi địa phương không liên lạc với gia đình. Năm 2020, anh H chồng chị có làm đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị và ly hôn với chị theo Quyết định số 03/2020/VDS-ST ngày 13/4/2020 và Bản án số 82/2020/HNGĐ-ST ngày 21/10/2020 của TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Nay chị đã trở về địa phương tại thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang sinh sống nên chị đề nghị Toà án huỷ bỏ quyết định về việc tuyên bố chị mất tích tại Quyết định số 03/2020/VDS-ST ngày 13/4/2020 của Toà án nhân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đối với chị.

Tại biên bản lấy lời kH ngày 24/4/2023, anh Dương Văn H trình bày: Anh và chị Triệu Thị Th chung sống kết hôn với nhau vào năm 1996. Đến cuối năm 2015 không biết vì lý do gì chị Th bỏ nhà đi. Anh đã làm đơn yêu cầu tuyên bố chị Th mất tích và ly hôn đối với chị Th. Yêu cầu của anh được chấp nhận Quyết định số 03/2020/VDS-ST ngày 13/4/2020 và Bản án số 82/2020/HNGĐ-ST ngày 21/10/2020 của TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang cho anh và chị Th ly hôn. Từ cuối năm 2015 cho đến nay anh không gặp lại chị Th, đến nay anh có biết việc chị Th đã trở về địa phương sinh sống tại thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Anh đồng ý với yêu cầu của chị Triệu Thị Th là huỷ bỏ Quyết định 03/2020/VDS-ST ngày 13/4/2020 của TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tuyên bố chị Th mất tích để chị Th có thể thực hiện quyền công dân một cách đầy đủ. Ngoài ra, do bận công việc nên anh đề nghị Toà án cho anh vắng mặt tại tất cả các phiên họp trong quá trình giải quyết vụ việc.

Tại phiên họp chị Th vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình, đề nghị Tòa án huỷ quyết định tuyên bố chị mất tích tại Quyết định 03/2020/VDS-ST ngày 13/4/2020 của TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Dương Văn H vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp sơ thẩm: Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện đúng theo quy định.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn chấp nhận đơn yêu cầu của chị Triệu Thị Th.

- Về lệ phí: Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Triệu Thị Th phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Toà án: Chị Triệu Thị Th yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích tại Quyết định số 03/2020/VDS-ST ngày 13/4/2020 của Toà án nhân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang nên quan hệ pháp luật của vụ việc là “Yêu cầu huỷ bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích”. Đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên họp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Dương Văn H có đơn xin vắng mặt, việc vắng mặt của anh H không ảnh hưởng đến việc giải quyết việc dân sự nên Toà án vẫn tiến hành phiên họp theo quy định tại khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung và yêu cầu của đương sự: Chị Triệu Thị Th và anh Dương Văn H có đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào năm 1996. Sau khi kết hôn cả H cùng về tại thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang chung sống. Vào cuối năm 2015 chị Th do tinh thần bất an và chán nản nên chị Th bỏ đi khỏi địa phương không có tin tức gì, không liên lạc với gia đình. Năm 2020, anh H chồng chị Th có làm đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Th được Toà án nhân dân giải quyết tại Quyết định số 03/2020/VDS-ST ngày 13/4/2020 của Toà án nhân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tuyên bố chị Th mất tích và chấp nhận cho anh H ly hôn với chị Th theo Bản án số 82/2020/HNGĐ-ST ngày 21/10/2020 của TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Sau khi Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tuyên bố chị Th mất tích, cuối năm 2022 chị Triệu Thị Th đã trở về địa phương sinh sống cho đến nay tại thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang được anh Dương Văn H thừa nhận, gia đình và chính quyền địa phương xác minh. Đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo Đều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 70 Bộ luật Dân sự, chị Triệu Thị Th là người bị Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tuyên bố mất tích trở về có quyền yêu cầu Toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích. Do đó, việc chị Th yêu cầu Toà án huỷ bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích đối với chị là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ những cơ sở trên, xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Th huỷ bỏ Quyết định tuyên bố chị Triệu Thị Th mất tích tại Quyết định số 03/2020/VDS-ST ngày 13/4/2020 của Toà án nhân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Về hậu quả pháp lý của việc huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự, chị Th không có yêu cầu gì nên Toà án không xem xét.

Ngoài ra, căn cứ vào khoản 3 Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015 “3. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích đã được ly hôn thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.” Do đó, Quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Dương Văn H đối với chị Triệu Thị Th tại Bản án số 82/2020/HNGĐ-ST ngày 21/10/2020 của TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vẫn có hiệu lực pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tại phiên họp xét thấy có cơ sở nên được chấp nhận.

Về lệ phí: Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Triệu Thị Th phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 48, Điều 149, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 390 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Triệu Thị Th:

Tuyên bố: Huỷ bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2020/VDS-ST ngày 13/4/2020 của Toà án nhân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang về việc tuyên bố một người mất tích đối với chị Triệu Thị Th.

Bản án số 82/2020/HNGĐ-ST ngày 21/10/2020 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giải quyết việc ly hôn giữa anh Dương Văn H và chị Triệu Thị Th vẫn có hiệu lực pháp luật.

2. Về lệ phí Tòa án: Chị Triệu Thị Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0003991 ngày 24/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Xác nhận chị Th đã nộp đủ.

3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được thông báo, niêm yết.

Cỡ chữ