- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "H H Byă -Y T Êban"
- Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2023/QĐST-VDS. Ngày 14/7/2023. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người bị mất tích.
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK.
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà H’Năm Bkrông.
Thư ký phiên họp: Ông Trần Hoà Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thuỳ Nguyên – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 06/2022/TLST-VDS ngày 20 tháng 12 năm 2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà H H Byă – Sinh năm 1981.
Địa chỉ: Buôn E A, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Y T Êban – Sinh năm: 1978.
Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Buôn E A, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Người yêu cầu – bà H H Byă trình bày: Bà H H Byă và ông Y T Êban đến với nhau trên cơ sở quen biết và có tình cảm, sau đó tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương, rồi chuyển về làm ăn, sống chung với nhau tại Buôn E A, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk từ năm 1999 đến năm 2004 trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống bà H H Byă và ông Y T Êban sinh được 02 người con chung là cháu Y H Byă, sinh ngày 10 tháng 12 năm 2000 và cháu Y N Byă, sinh ngày 06 tháng 02 năm 2003.
Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và nhiều lần hòa giải nội bộ trong gia đình nhưng không thành. Đến khoảng tháng 5 năm 2004, ông Y T Êban đã bỏ nhà đi không có lý và không rõ tung tích, đến nay gia đình không biết tin tức gì về ông Y T Êban. Mặc dù gia đình đã nỗ lực tìm kiếm rất nhiều lần, ở rất nhiều nơi nhưng vẫn không biết ông Y T Êban đang ở đâu. Vì vậy bà H H Byă làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk giải quyết tuyên bố ông Y T Êban mất tích.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ việc như sau: Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc và tại phiên họp đều đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật. Toà án thụ lý giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền; thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ đầy đủ.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc cho thấy đơn yêu cầu của bà H H Byă về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Y T Êban mất tích là có cơ sở để chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện K nhận định:
.Về tố tụng: Bà H H Byă có đơn yêu cầu tuyên bố ông Y T Êban, sinh năm: 1978; Nơi cư trú cuối cùng: Buôn E A, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk mất tích. Đây là việc dân sự về “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc.
.Xét yêu cầu của H H Byă có đơn yêu cầu tuyên bố ông Y T Êban mất tích:
Bà H H Byă và ông Y T Êban chung sống với nhau từ năm 1999 và không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Bà H H Byă và ông Y T Êban chung sống tại địa chỉ: Buôn E A, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đến năm 2004 thì ông Y T Êban bỏ nhà đi đâu không rõ, bà H H Byă đã nhiều lần liên hệ tìm kiếm nhưng không có thông tin gì.
Ngày 06/12/2022 UBND xã T, huyện P xác nhận: Ông Y T Êban có hộ khẩu thường trú tại: Buôn E A, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đã đi khỏi địa phương từ năm 2004 đến nay là đúng.
Tòa án nhân dân huyện K đã tiến hành các thủ tục thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp, phát sóng trên Đài phát thanh của Trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp nhưng đã quá thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên vẫn không có tin tức gì về ông Y T Êban.
Từ nhận định trên, xét thấy yêu cầu của bà H H Byă, tuyên bố ông Y T Êban mất tích là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận.
Về lệ phí: Bà H H Byă được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
.Về chi phí đăng thông báo, nhắn tin tìm kiếm ông Y T Êban: Bà H H Byă phải chịu 3.047.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo, nhắn tin tìm kiếm, khấu trừ vào số tiền mà bà H Hoãn đã nộp là 3.047.000 đồng đã nộp theo phiếu thu ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc.
QUYẾT ĐỊNH:
-Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;
-Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự;
-Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1.Chấp nhận yêu cầu của bà H H Byă.
Tuyên bố: Ông Y T Êban –Sinh năm 1978. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Buôn E A, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Bà H H Byă được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
3.Về chi phí tố tụng: Bà H H Byă phải chịu 3.047.000 đồng chi phí tố tụng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng mà bà H H Byă đã nộp là 3.047.000 đồng đã nộp theo phiếu thu ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện K .
4.Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà H H Byă được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND H.Krông Pắc; - TAND tỉnh ĐắkLắk; - Các đương sự; - Lưu: HS vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP (Đã ký) H’ Năm Bkrông |