- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị H yêu cầu tuyên bố ông Hoàng Văn T mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H, tuyên bố: ông Hoàng Văn T, sinh ngày 26/10/1982; quê quán: xã B T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú cuối cùng: Thôn 3, xã Bắc T, huyện B, tỉnh Quảng Bình mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2023/QĐST - VDS | Bố Trạch, ngày 03 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: ông Nguyễn Xuân Diệu.
- Thư ký phiên họp: bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên họp: bà Nguyễn Hoàng Quỳnh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 08/2022/TLST - VDS ngày 07 tháng 10 năm 2022 về việc “Tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2023/QĐST - VDS ngày 22 tháng 02 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn 2, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Hoàng Văn T, sinh ngày 26/10/1982; quê quán: xã B, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn 3, xã Bắc T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và lời khai trong quá trình giải quyết, người yêu cầu - bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà và ông Hoàng Văn T, có mối quan hệ chị em cùng mẹ là bà Phan Thị B (bà B đã chết vào ngày 15/8/2022), ông T có bố là ông Hoàng Văn T (đã chết). Ông Hoàng Văn T sinh ra, lớn lên sống cùng mẹ và bà tại xã B, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Cho đến ngày 05/6/1999, ông T đột nhiên bỏ nhà ra đi mà không nói gì với gia đình và kể từ đó cho đến nay ông T không liên lạc gì với gia đình bà, không một lần về quê. Gia đình bà đã tìm kiếm ông T khắp nơi, trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có thông tin gì của ông T. Hiện nay, bà không biết ông T ở đâu và làm gì. Vì vậy, bà có đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Bố Trạch tuyên bố ông Hoàng Văn T mất tích.
Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch đã thụ lý vụ việc và ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 08/2022/QĐ - TA ngày 18 tháng 10 năm 2022 đối với ông Hoàng Văn T. Bà Nguyễn Thị H đã làm các thủ tục đăng tin trên Báo Công lý ba số báo liên tiếp 84, 85, 86 vào các ngày 21, 25, 28 tháng 10 năm 2022; nhắn tin qua Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOV AMS) Đài tiếng nói Việt Nam vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 27, 28, 29 tháng 10 năm 2022 và đăng tin trên cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình ngày 21/10/2022. Kể từ ngày đăng báo và nhắn tin cho đến nay ông Hoàng Văn T không về và không liên lạc với gia đình bà H cũng như chính quyền địa phương, do đó, hiện tại ông T đang sinh sống ở đâu, làm gì bà H và chính quyền địa phương không biết.
Trước đó, Công an xã B và UBND xã B cũng đã xác nhận: ông Hoàng Văn T đã sinh sống tại Thôn 3, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Thời điểm có tin tức cuối cùng của ông Hoàng Văn T là ngày 05/6/1999. Sau khi rời khỏi nơi cư trú, ông T đi đâu, làm gì không khai báo với chính quyền địa phương và kể từ đó cho đến nay không quay về xã B.
Tại Công văn số: 22802/QLXNC-P5 ngày 31/10/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an xác nhận: ông Hoàng Văn T không có thông tin cấp hộ chiếu, xuất nhập cảnh.
Tại phiên họp, bà Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Hoàng Văn T mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự:
- Về tố tụng: Đây là quan hệ pháp luật yêu cầu tuyên bố một người mất tích; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Văn T có nơi cư trú cuối cùng là Thôn 3, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Bình, do đó, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi thụ lý cho đến thời điểm mở phiên họp: Thẩm phán, Thư ký phiên họp và Hội đồng tham gia phiên họp đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng; Người yêu cầu đã thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
- Về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Hội đồng phiên họp áp dụng khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 387 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị H, tuyên bố ông Hoàng Văn T mất tích.
- Về lệ phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: buộc bà Nguyễn Thị H nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị H, xác định quan hệ pháp luật của việc dân sự là “Tuyên bố một người mất tích”; ông Hoàng Văn T có nơi cư trú trước khi biệt tích là Thôn 3, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Bình, do đó, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về giải quyết yêu cầu của đương sự:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đơn yêu cầu ngày 30/9/2022 và Bản tự khai ngày 18/10/2022 của bà Nguyễn Thị H, xác nhận: ông Hoàng Văn T sinh ra và lớn lên tại Thôn 3, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Đến ngày 05/6/1999 thì ông T bỏ nhà ra đi không cho gia đình bà H biết là đi đâu, làm gì. Bà H đã tìm kiếm ông T khắp nơi và thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng như: đăng tin trên Báo Công lý ba số báo liên tiếp 84, 85, 86 vào các ngày 21, 25, 28 tháng 10 năm 2022; nhắn tin tìm kiếm qua Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOV AMS) Đài tiếng nói Việt Nam vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 27, 28, 29 tháng 10 năm 2022 và đăng tin trên cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình ngày 21/10/2022 nhưng cho đến nay vẫn không có kết quả. Như vậy, ông Hoàng Văn T đã biệt tích hơn 02 năm liền kể từ ngày có tin tức cuối cùng là ngày 05/6/1999. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự và khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 387; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự: chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc tuyên bố ông Hoàng Văn T mất tích.
Về lệ phí sơ thẩm việc dân sự: bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 387; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H, tuyên bố: ông Hoàng Văn T, sinh ngày 26/10/1982; quê quán: xã B T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú cuối cùng: Thôn 3, xã Bắc T, huyện B, tỉnh Quảng Bình mất tích.
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí bà H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 31AA/2021/0002594 ngày 07 tháng 10 năm 2022). Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ lệ phí việc dân sự.
3. Quyết định sơ thẩm, người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Người yêu cầu; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Xuân Diệu |