- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu xác định cha cho con của chị Vũ Thị T. Xác định anh Bùi Quang L, sinh ngày 05/8/1997 (đã chết ngày 09/02/2022 theo trích lục khai tử số 06/TLKT ngày 15/02/2022 của Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Q), nơi cư trú cuối cùng: Khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quả…
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2023/QĐST-HNGĐ | Q, ngày 13 tháng 02 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu xác định cha cho con”
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: ông Phan Hùng.
Thư ký phiên họp: bà Mai Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên họp: ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2023/TLST
- VHNGĐ ngày 03/01/2023 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST- HNGĐ ngày 02/02/2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: chị Vũ Thị T, sinh năm 1999; địa chỉ: Khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979 và ông Bùi Văn N, sinh năm 1973; địa chỉ: Khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (bà T1, ông N vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Người làm chứng: anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1999; địa chỉ: Khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 15/12/2022, bản tự khai, người yêu cầu chị Vũ Thị T trình bày: chị T và anh Bùi Quang L, sinh ngày 05/8/1997, địa chỉ: Khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh có quen biết và tìm hiểu nhau để đi đến kết hôn. Tuy nhiên, do dịch bệnh covid nên chưa tổ chức cưới mà hai bên gia đình mới chỉ làm vài mâm cỗ để cúng tổ tiên và báo cho họ hàng gần biết vào tháng 12/2021, sau đó cả hai về sống cùng với bố mẹ anh L. Lúc này cả hai chưa đăng ký kết hôn mà để qua tết âm lịch sẽ đăng ký. Tuy nhiên, ngày 09/02/2022 anh L gặp tai nạn chết, khi đó chị đang mang thai con của chị và anh L. Đến ngày 08/9/2022 chị đã sinh một cháu gái tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (theo giấy chứng sinh số 220901 ngày 05/10/2022 của Trung tâm y tế thị xã Quảng Ninh), gia đình đặt tên là Bùi Anh T2 nhưng trong giấy chứng sinh thì chưa ghi tên cháu. Do anh L mất khi chị đang mang thai cháu Thư và cả hai chưa đăng ký kết hôn nên không khai sinh cả tên bố cho cháu được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết: Xác định anh Bùi Quang L, sinh ngày 05/8/1997, là cha của cháu gái (tên dự định đặt là Bùi Anh T2), sinh ngày 08/9/2022 theo giấy chứng sinh số 220901 ngày 05/10/2022 của Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn N, bà Nguyễn Thị T1 trình bày: ông bà là bố mẹ đẻ của anh Bùi Quang L, sinh năm 1997 (chết ngày 09/02/2022); là bố mẹ chồng của chị T. Khi anh L và chị T định tổ chức đám cưới thì diễn ra dịch covid 19 nên không tổ chức được. Lúc đó gia đình có làm vài mâm cơm thắp hương tổ tiên và mời một số họ hàng gần, hàng xóm đến tham dự để thông báo việc hai cháu về sống với nhau vào tháng 12/2021. Khi đó cả hai vẫn chưa đăng ký kết hôn. Khi anh L chết thì chị T đang mang thai. Chị T vẫn ở cùng gia đình ông bà từ khi anh L mất cho đến nay. Ngày 08/09/2022 chị T sinh 01 cháu gái gia đình gọi tên là Bùi Anh T2. Cháu Thư là con của chị T và anh L, là cháu nội của ông bà. Gia đình đã làm cả xét nghiệm ADN giữa bà nội là bà T1 với cháu Thư. Kết quả bà T1 (bà nội) và cháu Bùi Anh T2 có quan hệ huyết thống theo dòng X, độ tin cậy >99,9999%. Nên nay chị T yêu cầu xác định cháu gái tên dự định là Bùi Anh T2, sinh ngày 08/9/2022 theo giấy chứng sinh số 220901 ngày 05/10/2022 của Trung tâm y tế thị xã Quảng Ninh là con của anh Bùi Quang L thì ông bà đồng ý, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
Anh Bùi Văn Đ trình bày: anh là em trai của anh Bùi Quang L. Hai anh em sống cùng bố mẹ tại Khu Đ, phường M, thị xã Q. Anh L và chị T, sinh năm 1999 có về chung sống tại gia đình anh nhưng chưa tổ chức đám cưới do dịch covid 19, gia đình hai bên có làm vài mâm cơm để thắp hương tổ tiên và mời họ hàng gần, hàng xóm đến chung vui và thông báo việc chị T và anh L về ở với nhau vào tháng 12/2021. Ngày 09/02/2022 anh L chết, khi đó chị T đang mang thai cháu Thư. Từ khi anh Lịnh mất, chị T vẫn ở cùng gia đình anh từ đó cho đến nay. Ngày 08/09/2022 thì chị T sinh 01 cháu gái đặt tên là Bùi Anh T2. Cháu Thư là con của chị T và anh L. Nay chị T yêu cầu xác định cháu Bùi Anh T2, sinh ngày 08/9/2022 theo giấy chứng sinh số 220901 ngày 05/10/2022 của Trung tâm y tế thị xã Quảng Ninh là con của anh Bùi Quang L thì đề nghị tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của chị T.
Tại biên bản xác minh ngày 19/01/2023, trưởng khu Động Linh cung cấp như sau: Anh Bùi Quang L, sinh năm 1997 là con trai của ông Bùi Văn N và bà Nguyễn Thị T1. Chị Vũ Thị T có về chung sống với anh Bùi Quang L tại nhà bố mẹ anh L nhưng do khi đó đang phòng chống dịch nên gia đình hai bên không tổ chức đám cưới như bình thường mà chỉ tổ chức quy mô nhỏ để mời họ hàng. Tháng 02/2022 anh L bị tai nạn mất, thời điểm đó chị T đang có bầu nhưng cả hai vẫn chưa đăng ký kết hôn. Ngày 08/9/2022 chị T sinh một cháu gái gia đình gọi là Bùi Anh T2 tại Trung tâm y tế thị xã Q. Hiện nay, chị T và cháu Bùi Anh T2 vẫn sinh sống cùng với gia đình ông N và bà T1. Nay chị T có yêu cầu xác nhận cháu tên dự định là Bùi Anh T2 là con của anh Bùi Quang L đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định để bảo đảm quyền lợi cho cháu.
Tại phiên họp: chị Vũ Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị xác định anh Bùi Quang L là cha đẻ của cháu Bùi Anh T2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự như sau: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết việc dân sự và Thư ký phiên họp về cơ bản đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đương sự chấp hành pháp luật tố tụng. Về nội dung: đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu xác định cha cho con của chị Vũ Thị T. Xác định anh Bùi Quang L, sinh ngày 05/8/1997 (đã chết ngày 09/02/2022 theo trích lục khai tử số 06/TLKT ngày 15/02/2022 của Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Q), nơi cư trú cuối cùng: Khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Bùi Anh T2 (tên do gia đình dự định đặt, không ghi trong giấy chứng sinh), sinh ngày 08/09/2022 theo Giấy chứng sinh số 220901 ngày 05/10/2022 của Trung tâm y tế thị xã Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của chị Vũ Thị T và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền của Toà án: chị Vũ Thị T cư trú tại Khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh có yêu cầu “xác định cha cho con” nên theo quy định tại khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu của chị Vũ Thị T thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giải quyết.
Về việc giải quyết việc dân sự vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Toà án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập ông Bùi Văn N, bà Nguyễn Thị T1, anh Bùi Văn Đ. Tại phiên họp: ông N, bà T1, anh Đình có đơn xin vắng mặt. Do đó, Toà án giải quyết việc dân sự vắng mặt ông N, bà T1, anh Đình theo quy định tại khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: cuối năm 2021 chị Vũ Thị T và anh Bùi Quang L về chung sống với nhau như vợ chồng tại gia đình anh L nhưng chưa đăng kết hôn, gia đình chỉ làm lễ để ra mắt gia đình hai bên, họ hàng gần do dịch covid 19 nên không thể tổ chức đám cưới. Khi chị T đang mang thai con chung với anh L thì ngày 09/02/2022 anh L chết. Đến ngày 08/09/2022 chị T sinh 01 cháu gái (gia đình gọi tên là Bùi Anh T2), theo giấy chứng sinh số 220901 ngày 05/10/2022 của Trung tâm y tế thị xã Quảng Ninh cấp. Điều này phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, xác minh tại địa phương. Tại Kết quả phân tích ADN số 22804CG/DNA ngày 06/12/2022 của Công ty TNHH Đầu tư và Công nghệ GENPLUS kết luận bà Nguyễn Thị T1 (bà nội) và người có tên dự kiến Bùi Anh T2 có quan hệ huyết thống theo dòng X, độ tin cậy >99,9999%. Kết luận trên phù hợp với tài liệu về việc giám định do đơn vị giám định đã cung cấp cho Tòa án. Các đương sự đồng ý với kết luận giám định. Công ty TNHH Đầu tư và Công nghệ GENPLUS cũng cung cấp: do anh L đã chết nên việc xác định cha cho con khi người cha đã chết được thay thế bằng việc lấy mẫu xét nghiệm giữa bà nội và cháu gái là phù hợp về mặt di truyền. Xét nghiệm ADN huyết thống bà nội cháu gái dựa trên nguyên lý di truyền nhiễm sắc thể (NST) X của bà nội di truyền cho người cha, NST X của người cha lại di truyền cho tất cả những người con gái của mình. Việc lấy mẫu giám định giữa ông nội và cháu gái để xác định quan hệ huyết thống theo dòng cha là không phù hợp và không thực hiện được.
Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận anh Bùi Quang L, sinh ngày 05/8/1997 (đã chết ngày 09/02/2022) là cha đẻ của cháu bé gia đình dự định đặt tên là Bùi Anh T2, sinh ngày 08/9/2022. Nên cần chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của chị Vũ Thị T.
Về lệ phí: chị Vũ Thị T phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149; khoản 3 Điều 367; Điều 371; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 90, 101, 102 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 6 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu xác định cha cho con của chị Vũ Thị T. Xác định anh Bùi Quang L, sinh ngày 05/8/1997 (đã chết ngày 09/02/2022 theo trích lục khai tử số 06/TLKT ngày 15/02/2022 của Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Q), nơi cư trú cuối cùng: Khu Đ, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Bùi Anh T2 (tên do gia đình dự định đặt, không ghi trong giấy chứng sinh), sinh ngày 08/09/2022 theo Giấy chứng sinh số 220901 ngày 05/10/2022 của Trung tâm y tế thị xã Q.
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: chị Vũ Thị T phải nộp 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí chị Vũ Thị T đã nộp theo biên lai thu số 0010175 ngày 30/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Chị Vũ Thị T đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: chị Vũ Thị T có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Ông Bùi Văn N, bà Nguyễn Thị T1 có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSNDTX Q; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADSTX Q; - UBND phường M; - Lưu hồ sơ . Cụ Xỉu mất năm 2004. đi đâu) đến nay không có tin tức gì, không rõ hiện tại đang ở đâu, còn sống hay đã với ai trong gia đình. huyện Yên Hưng (nay là Khu 7, phường Nam Hòa, thị xã Q), tỉnh Quảng Ninh. nhất trí với yêu cầu của tôi. Các chi phí, lệ phí tôi chịu và không có ý kiến gì. vắng mặt. Hoàng Đức Thắng, tuyên bố bà Hà Thị Tơ sinh năm 1949, nơi cư trú cuối cùng: thôn Tân Mai, xã Đông Mai, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh (nay là khu Tân Mai, phường Đông Mai, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh) là đã chết. tin của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết là 5.200.000 đồng (Năm triệu, hai trăm nghìn đồng). Anh Thắng đã nộp đủ chi phí theo các văn bản ngày 8/12/2020 và ngày 15/4/2021 của Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. tuyên bố là đã chết: Căn cứ khoản 2 Điều 392 Bộ luật tố tụng dân sự: Anh Hoàng Đức Thắng phải chịu chi phí cho việc thông báo tìm kiếm thông tin của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết là 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng). Anh Thắng đã nộp đủ chi phí theo các văn bản giao nhận tiền ngày 8/12/2020 và ngày 15/4/2021 của Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP Phan Hùng Cụ Ngô Bá Hào, sinh năm 1929 và cụ Nguyễn Thị Xỉu, sinh năm 1926 có 04 người con là bà Ngô Thị Hải, ông Ngô Bá Vỵ, ông Ngô Bá Tâm và bà Ngô Thị Yến. Cụ Hào bỏ nhà đi từ năm 2004 (nói là đi hải phòng nhưng cụ thể không biết chết. gia đình tìm kiếm, hỏi thăm ở nhiều nơi mà không có tin tức. cụ không liên lạc Trước khi biệt tích cụ Hào đăng ký hộ khẩu cư trú tại Xóm 7, xã Nam Hòa, Tôi yêu cầu tuyên bố bố tôi là cụ Hào là đã chết. Các anh chị em của tôi cũng Ông Vỵ, bà Hải, bà Yến bận nên không tham gia phiên họp đc và có đơn xin 71 và Điều 72 Bộ luật dân sự, đề nghị Toà án chấp nhận đơn yêu cầu của anh Anh Hoàng Đức Thắng phải chịu chi phí cho việc thông báo tìm kiếm thông 3. Về chi phí cho việc thông báo tìm kiếm thông tin của người bị yêu cầu |