vanban.org

Quyết định 03/2023/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 06/01/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trương Thành Q.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị H và anh Q, giao cháu Trương Nguyễn Thùy L, sinh ngày 05/9/2010 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Trương Thành Q được quyền thă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thành Q- Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trương Thành Q.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2023/QĐST- HNGĐHải Dương, ngày 06 tháng 01 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà – Cán bộ Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền– Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.

Ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 383/2022/TLST-HNGĐ ngày 14/12/2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận nuôi con khi ly hôn”.Theo Quyết định mở phiên họp số 397/2022/QĐMPH-HNGĐ ngày 27/12/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu:

1.Anh Trƣơng Thành Q, sinh năm 1986.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: KDC Trạm L, phường Bạch Đ, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Hiện đang ở: Đài Loan.

2.Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Đội 9, thôn Nghi K, xã Tân K, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

( Anh Q, chị H đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai của chị Nguyễn Thị H; đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, giấy ủy quyền của anh Trương Thành Q cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện :

1

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Q tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bạch Đ, huyện Kinh Môn (nay là phường Bạch Đ, thị xã Kinh Môn), tỉnh Hải Dương ngày 17/7/2009. Sau ngày cưới vợ chồng sống tại gia đình anh Q được 2 tháng thì chuyển về nhà chị H sinh sống. Vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do năm 2015 anh Q đi Đài Loan lao động, vợ chồng bất đồng quan điểm và thiếu sự tin tưởng nhau. Năm 2017 chị H có sang Đài Loan làm việc nhưng vợ chồng vẫn sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H và anh Q đều xác định tình cảm không còn, anh chị thống nhất làm đơn ly hôn, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương công nhận sự thỏa thuận của anh chị.

- Về con chung : Chị H và anh Q có một con chung là Trương Nguyễn Thùy L, sinh ngày 05/9/2010, hiện tại con đang ở với chị H. Ly hôn anh chị thỏa thuận chị H sẽ trực tiếp nuôi con. Chị H tự nguyện không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên xác định không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về lệ phí: Chị H tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Hiện tại anh Q đang lao động tại Đài Loan, anh Q đã có đơn ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, giấy ủy quyền gửi về Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (có chứng thực của Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc), đồng thời ủy quyền cho chị H giao nhận các văn bản. Chị H đồng ý nhận ủy quyền của anh Q và đã thông báo các văn bản của Tòa án cho anh Q biết.

Cháu Nguyễn Thùy L là con chung của anh Q và chị H có quan điểm được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ việc: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trương Thành Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh Q, chị H. Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận của anhh Q, chị H giao cháu Trương Nguyễn Thùy L, sinh ngày 05/9/2010 cho chị H nuôi dưỡng, anh Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con

2

chung. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H có hộ khẩu thường trú tại: Đội 9, thôn Nghi K, xã Tân K, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Anh Trương Thành Q có hộ khẩu thường trú tại: KDC Trạm L, phường Bạch Đ, thị xã Kinh M, tỉnh Hải Dương, hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Do vậy, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương .

Trong quá trình giải quyết vụ án chị H, anh Q đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Trương Thành Q được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bạch Đ, huyện Kinh M (nay là phường Bạch Đ, thị xã Kinh M), tỉnh Hải Dương ngày 17/7/2009, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Q đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng mỗi người sống một nơi nên cả hai đã mất niềm tin, không tìm thấy tiếng nói chung. Nay anh Q, chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng có đơn đề nghị Tòa án công nhân thuận tình ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh Q, chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh chị.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Trương Thành Q có một con chung là Trương Nguyễn Thùy L, sinh ngày 05/9/2010, hiện cháu L đang ở với chị H. Ly hôn chị H, anh Q thỏa thuận chị H là người trực tiếp nuôi con, cháu L cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét thấy việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện thực tế của các đương sự, do vậy có căn cứ chấp nhận. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

3

. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị H chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trương Thành Q.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị H và anh Q, giao cháu Trương Nguyễn Thùy L, sinh ngày 05/9/2010 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh Trương Thành Q được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3.Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ chị H đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0003191 ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp đủ lệ phí.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ