vanban.org

Quyết định 03/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Tuyên án 05/07/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận: Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của Anh Nguyễn Văn B đối với Chị Pa Thị T.

Tuyên bố: Chị Pa Thi T, sinh năm 1979; Địa chỉ trước khi biệt tích: Thôn L, xã Ph, huyện V, tỉnh H. Mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyễn Văn B - Pa Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận: Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của Anh Nguyễn Văn B đối với Chị Pa Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––
Số: 03/2022/QĐST -VDS
V, ngày 05 tháng 7 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đặng Hồng Tường

Thư ký phiên họp: Ông Chúng Minh Duẩn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H tham gia phiên họp: Bà Phạm Đài Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2022/TLST - VDS, ngày 09/2/2022, về việc yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích”

Những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Văn B; Sinh năm: 1973; Địa chỉ: Thôn L, xã Ph, huyện V, tỉnh H.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Pa Thị T, sinh năm 1979; Là người bị yêu cầu tuyên bố mất tích; Địa chỉ trước khi biệt tích: Thôn L, xã Ph, huyện V, tỉnh H.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn của Anh Nguyễn Văn B ghi ngày 18 tháng 01 năm 2022, với nội dung như sau: Anh và Chị Pa Thị T, sinh năm 1980 kết hôn với nhau năm 2002 có đăng ký tại UBND xã Ph, huyện V, tỉnh H. Sau kết hôn vợ chồng cùng nhau sinh sống tại Thôn L, xã Ph, huyện V, tỉnh H quá trinh chung sống vợ chồng đã có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ng, sinh năm 2000 và cháu Nguyễn Thị Ng, sinh năm 2006 hiện cháu Ng đã ra ở riêng còn cháu Ng đang ở với anh B. Ngày 15/5/2013 không biết lý do gì Chị Pa Thị T bỏ đi đâu không rõ, bản thân anh và người nhà đã đi tìm và hỏi nhiều nơi nhưng đều không biết chị T đi đâu và làm gì, Do không biết được tung tích của chị T, sau khi trình báo việc chị T mất tích đến cơ quan công an xã Ph anh B đã gửi đơn yêu cầu đến Tòa án yêu cầu Tòa án nhân dân huyện V tuyên bố Chị Pa Thị T mất tích.

Sau khi xem xét đơn yêu cầu của anh Nguyên Văn B, Tòa án nhân dân huyện Vị thụ lý vụ việc và ra Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Thông báo được đăng trên báo Công lý 03 số liên tiếp, phát sóng trên đài tiếng nói Việt Nam. Thời gian đăng báo và phát sóng lần đầu tính từ ngày 24/2/2022.

Tại phiên họp người yêu cầu Anh Nguyễn Văn B vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố Chị Pa Thị T mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên họp có ý kiến:

- Thư ký phổ biến nội quy phiên họp, kiểm tra sự có mặt, vắng mặt của người tham gia phiên họp đúng theo quy định tại Điều 237 BLTTDS; Thẩm phán chủ tọa phiên họp điều hành trình tự, thủ tục tại phiên họp theo đúng trình tự thủ tục quy định của Điều 369 BLTTDS; Việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã thực hiện việc giao nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích, kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh người bị yêu cầu đó đã mất tích từ năm 2013 cho đến nay không về, đúng quy định của pháp luật.

- Quan điểm giải quyết vụ việc: Anh B và chị T tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 27/4/2002 tại UBND xã Ph, huyện V, tỉnh H. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến ngày 15/5/2013, không hiểu vì lý do gì chị T xé rách giấy đăng ký kết hôn và bỏ nhà đi từ đó cho đến nay chưa về. Anh B cùng họ hàng đã tổ chức tìm kiếm nhiều nơi nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của chị T. Ngày 18/1/2022, anh B làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Chị Pa Thị T mất tích.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã xác minh tại xã Ph, huyện V, việc chị Tuyên bỏ nhà đi đâu không rõ và đến nay không có mặt tại địa phương là đúng.

Áp dụng khoản 1 Điều 68 BLDS, các Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 369 Điều 370; Điều 389 BLTTDS.

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của Anh Nguyễn Văn B: Tuyên bố Chị Pa Thị T; sinh năm 1979; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: thôn L, xã Ph, huyện V, tỉnh H mất tích.

* Về con chung, tài sản, công nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

* Về lệ phí: Căn cứ khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh B chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. và chi phí đăng tin tìm kiếm người mất tích theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và ý kiến của đương sự, phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên tham gia tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H nhận định:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn B có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với Chị Pa Thị T theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 40 và Điều 361 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Anh Nguyễn Văn B và Chị Pa Thị T xây dựng gia đình với nhau là hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện V. Từ ngày 15/5/2013 chị T đã bỏ đi biệt tích, bản thân anh B đã cùng người thân quen đi tìm và hỏi nhiều nơi nhưng không biết gì về tung tích của chị T. Như vậy có thể xác định anh nguyên Văn B là chồng hợp pháp của Chị Pa Thị T khi chị T bỏ đi biệt tích việc anh B có đơn yêu cầu tuyên bố vợ mình mất tích là đảm bảo về tư cách người yêu cầu; Việc Chị Pa Thị T bỏ đi biệt tích từ ngày 15/5/2013 đến nay và Tòa án đã ra Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, thông báo được đăng trên báo Công lý, phát sóng trên đài tiếng nói Việt Nam 03 số liên tiếp. Thời gian đăng báo và phát sóng lần đầu tính từ ngày 24/2/2022, trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu đến hết thời gian 04 tháng đều không có thông tin gì về tung tích của Chị Pa Thị T; Ngoài ra việc Chị Pa Thị T biệt tích cũng được xác nhận bằng việc Tòa án xác minh tại cơ quan công an xã Ph, huyện V, tỉnh H. Từ những căn cứ trên nên cần được chấp nhận yêu cầu của Anh Nguyễn Văn B về việc tuyên bố Chị Pa Thị T mất tích theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nhân thân của Chị Pa Thị T căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và kết quả xác minh xác định được Chị Pa Thị T sinh năm 1979 là đúng và phù hợp với lời trình bầy của Anh Nguyễn Văn B.

Về con chung của vợ, chồng anh B và chị T, có hai con chung có 02 (hai) con chung là Nguyễn Thị Ng, sinh năm 2000 và cháu Nguyễn Thị Ng, sinh năm 2006 hiện cháu Ng đã ra ở riêng còn cháu Ng đang ở với anh B và anh B không yêu cầu, vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.

. Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án Tòa án không xem xét giải quyết.

. Về lệ phí: Anh Nguyễn Văn B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về chi phí đăng tin thông báo tìm kiếm người mất tích trên đài, báo đài Trung ương Anh Nguyễn Văn B phải chịu số tiền đã chi phí hết là: 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo quyết định theo quy định tại Điều 371; Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015

Căn cứ vào Điều 150; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 385; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận: Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của Anh Nguyễn Văn B đối với Chị Pa Thị T.

2. Tuyên bố: Chị Pa Thi T, sinh năm 1979; Địa chỉ trước khi biệt tích: Thôn L, xã Ph, huyện V, tỉnh H. Mất tích.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Anh Nguyễn Văn B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0002211, ngày 09/02/2022 của chi cục THA dân sự huyện V, tỉnh H (Anh B đã nộp đủ lệ phí)

Chi phí đăng tin: Anh Nguyễn Văn B phải chịu số tiền chi phí đăng tin là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Theo hóa đơn giá trị gia tăng số 00000151 ngày 24/02/2022 của Trung tâm quảng cáo truyền thông đa phương tiện đài tiếng nói Việt Nam và hóa đơn giá trị gia tăng số 0078 ngày 18/02/2022 của báo Công lý. (Anh Nguyễn Văn B đã nộp đủ lệ phí, chi phí đăng tin).

4. Quyền kháng cáo: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp không có mặt tại phiên họp thì thời hạn đó tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ