vanban.org

Quyết định 03/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 * Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Hoàng Văn Thanh.

* Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ng - sinh năm 1959; nơi cư trú cuối cùng: Thôn Lê H, xã L, huyện X, tỉnh H mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự phải nộp: Anh Hoàng Văn Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí mà anh Th đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định mất tích"
  • Tòa quyết gì? 1 * Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Hoàng Văn Thanh.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2022/QĐST- VDSQuảng Xương, ngày 22 tháng 3 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HÓA

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Đại Long – Thẩm phán

- Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thu - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng xương, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 15/2021/TLST-VDS ngày 07/10/2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐST- VDS ngày 14/02/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Anh Hoàng Văn Th, sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện X, tỉnh H.

- Đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn Th, sinh năm 1958

Địa chỉ: Thôn Lê H, xã L, huyện X, tỉnh H.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1959

HKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Lê H, xã L, huyện X, tỉnh H.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Anh Hoàng Văn Th có đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đề ngày 23/9/2021, Giấy báo cáo của anh Hoàng Văn T là con, tại phiên họp hôm nay ông Hoàng Văn Th là người đại diện theo ủy quyền và là chồng của bà Ng trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Ng lấy nhau từ năm 1981 có tổ chức cưới hỏi nhưng không có đăng ký kết hôn và sinh được 3 người con là Hoàng Văn T, Hoàng Văn Th, Hoàng Thị Th vợ chồng sống với nhau cho đến năm 1997 bà Nguyễn Thị Ng sinh năm 1959 đã bỏ nhà đến nay không có tin tức gì. Từ khi bà Ng bỏ nhà đi đến nay gia đình đã tìm kiếm nhiều lần qua anh em, bạn bè và trên các phương tiện thông tin đại chúng, mặc dù ông và các con của ông đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không biết bà Ng ở đâu và cũng không có tin tức gì về bà Ng. Nay ông và con của bà Ng yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Ng sinh năm 1959 mất tích theo quy định của pháp luật.

Theo biên bản xác minh tại địa phương: Bà Nguyễn Thị Ng sinh năm 1959 là mẹ đẻ của anh Hoàng Văn Th, Hoàng Văn T, Hoàng Thị Th và là vợ không có đăng ký kết hôn của ông Hoàng Văn Th; từ năm 1997 bà Ng đã bỏ nhà đi cho đến nay, không có mặt tại địa phương. Hiện tại bà Ng ở đâu, làm gì còn sống hay đã chết địa phương không nắm được.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp:

*Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Thư ký kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm mở phiên họp đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết việc dân sự: đề nghị Tòa án căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của anh Hoàng Văn Th về việc yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Ng mất tích.

*Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa nhận định:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1959 có nơi cư trú cuối cùng ở Thôn Lê H, xã L, huyện X, tỉnh H. Anh Hoàng Văn Th, sinh năm 1984 là con đẻ có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Ng mất tích, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 và khoản 1 Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Theo đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của anh Hoàng Văn Th đề ngày 23/9/2021, Giấy báo cáo của anh Hoàng Văn Toàn là con, tại phiên họp hôm nay ông Hoàng Văn Th là người đại diện theo ủy quyền và là chồng của bà Ngọc trình bày: Bà Nguyễn Thị Ng sinh năm 1959 đã bỏ nhà đi từ năm 1997 đến nay không có tin tức gì; ông và gia đình đã hỏi thăm bạn bè, tìm kiếm nhiều nơi, đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng vẫn không có kết quả nên ông Th và anh Th yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nuyễn Thị Ng mất tích; anh Th đã làm đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật.

Xét thấy trước và sau khi thụ lý việc dân sự về “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” đối với bà Nguyễn Thị Ng thì tại đơn xác nhận của UBND và Công an xã Quảng Lộc, Quảng xương, tỉnh Thanh hóa cũng như trong đơn của anh Thanh là bà Nguyễn Thị Ng đi từ năm 1997 đến nay không rõ đang ở đâu, hiện tại bà Ngọc không có mặt ở địa phương cho đến ngày hôm nay. Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là bà Nguyễn Thị Ng và đã công bố thông báo, áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự như trên báo Nhân dân, Đài tiếng nói Việt Nam 03 kỳ liên tiếp và đăng cổng thông tin điện tử của Tòa án. Thời hạn thông báo 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên (ngày 14/10/2021) đến nay đã hết thời hạn thông báo theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà Nguyễn Thị Ng còn sống hay đã chết. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu của anh Hoàng Văn Th về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Ng mất tích là phù hợp.

Lệ phí: Anh Hoàng Văn Th phải chịu, lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; khoản 1 Điều 387; Điều 388; Điều 389; khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Điều 36; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1 * Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Hoàng Văn Thanh.

* Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ng - sinh năm 1959; nơi cư trú cuối cùng: Thôn Lê H, xã L, huyện X, tỉnh H mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự phải nộp: Anh Hoàng Văn Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí mà anh Th đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0009208 ngày 07/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Anh Hoàng Văn Th đã nộp đủ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu anh Hoàng Văn Th ủy quyền cho đại diện theo ủy quyền là ông Hoàng Văn Th có mặt phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (ngày 22/3/2021). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ng vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ