vanban.org

Quyết định 03/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 31/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị H.

Tuyên bố anh Trần Văn M, sinh ngày 22/10/1989; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: số nhà 24, tổ 1, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình mất tích từ ngày 20/10/2019. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Phạm Thị H yêu cầu tuyên bố anh Trần Văn M mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2022/QĐST-DSTam Điệp, ngày 31 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Ngọc Tú

- Thư ký phiên họp: Bà Vũ Quỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Huế – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2022/TLST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2022/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: chị Phạm Thị H, sinh năm 1990; địa chỉ: số nhà 24, tổ 1, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.

Chị Phạm Thị H; Có mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 14/4/2022, bản khai chị Phạm Thị H là người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày: chị và anh Trần Văn M sau khoảng hai năm được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 3 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân phường Tr, thành phố T. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì anh M vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án. Trong thời gian anh M đi chấp hành án chị vẫn đi thăm nuôi bình thường, đến tháng 4/2019 anh M chấp hành án xong vợ chồng vẫn tiếp tục chung sống cùng nhau đến ngày 20/10/2019 thì anh M bỏ nhà ra đi. Trước khi anh M đi không nói với chị và gia đình biết là anh đi đâu, làm gì. Kể từ khi anh M đi đến nay cũng không liên lạc cho chị và gia đình, chị đã tìm kiếm anh M thông qua bạn bè người thân hai bên nội ngoại và đăng tin tìm kiếm anh M trên đài tiếng nói Việt Nam nhưng cũng không có tin tức gì của anh Trần Văn M. Thời gian anh M biệt tích đến nay đã được hơn hai năm, chị đã tìm kiếm và chờ đợi anh M trong khoảng thời gian dài nhưng đến nay anh M vẫn không trở về. Vì vậy chị đề nghị Tòa án tuyên bố anh Trần Văn M, sinh ngày 22/10/1989; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: số nhà 24, tổ 1, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình mất tích theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp trong quá trình giải quyết việc dân sự là đúng; việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Quan điểm về việc giải quyết nội dung việc dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị H tuyên bố anh Trần Văn M, sinh ngày 22/10/1989; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: số nhà 24, tổ 1, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình mất tích; Chị Phạm Thị H phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình nhận định:

Về tố tụng: Đây là việc dân sự về yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là anh Trần Văn M, sinh ngày 22/10/1989; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: số nhà 24, tổ 1, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, theo quy định tại Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

Về nội dung: chị Phạm Thị H và anh Trần Văn M được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 3 năm 2013 tại UBND phường Tr, thành phố T nên quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Trần Văn M là hợp pháp. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự chị Phạm Thị H có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Trần Văn M mất tích.

Căn cứ vào đơn đề nghị của chị Phạm Thị H ghi ngày 29/11/2021 có xác nhận của bố mẹ đẻ anh M và có xác nhận của Công an phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình là anh Trần Văn M không có mặt tại địa phương từ tháng 10 năm 2019 cho đến nay. Chị H cũng giao nộp tài liệu chứng cứ thể hiện chị đã nhắn tin tìm kiếm anh Trần Văn M trên Đài tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 03, 04 và ngày 05/3/2022 nhưng vẫn không có tin tức gì về anh Trần Văn M. Theo biên bản xác minh ngày 15/4/2022 tại tổ 1, phường Tr, thành phố T xác định anh Trần Văn M không có mặt tại địa phương từ ngày 20/10/2019 cho đến nay. Biên bản xác minh ngày 22/8/2022 tại tổ 1, phường Tr, thành phố T và biên bản xác minh ngày 22/8/2022 xác minh tại gia đình anh M thì bà Nguyễn Thị Ng và tổ dân phố đều xác định anh Trần Văn M biệt tích từ tháng 10/2019 cho đến nay không có mặt tại địa phương.

Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã thông báo tìm kiếm anh Trần Văn M trên Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 03, 04 và ngày 05/5/2022; trên báo Công lý ba số liên tiếp 33,34 + 35 và 36 ra các ngày 26, 29/4/2022 và ngày 03/5/2022 và trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Ninh Bình, Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao. Việc đăng tải thông báo tìm kiếm anh Trần Văn M đến nay đã hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Trần Văn M.

Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự quy định: "Khi một người biệt tích từ 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích..."

Như vậy có đủ cơ sở kết luận anh Trần Văn M biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Trần Văn M còn sống hay đã chết. Từ căn cứ nêu trên cần chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị H về việc tuyên bố anh Trần Văn M, sinh ngày 22/10/1989; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: số nhà 24, tổ 1, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình mất tích từ ngày 20/10/2019.

Chị Phạm Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự; Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; các Điều 149, 361, 370, 371, 372, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị H.

1. Tuyên bố anh Trần Văn M, sinh ngày 22/10/1989; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: số nhà 24, tổ 1, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình mất tích từ ngày 20/10/2019.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị Phạm Thị H đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0002596 ngày 14/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ.

Chị Phạm Thị H có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc Quyết định được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ