- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Chị Trần Thị L, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: Khu 2, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2022/QĐST-DS | T, ngày 16 tháng 3 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Lệ Thanh.
Thư ký phiên họp: Ông Trần Đình Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Ông Lưu Thanh Liêm - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2021/TLST - DS ngày 01 tháng 10 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐST - DS ngày 25 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên họp số 01/2022/QĐST-DS ngày 08/3/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Đỗ Minh Đ - sinh năm 1989.
Địa chỉ: Khu 2, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị L - sinh năm 1990.
Nơi cư trú cuối cùng: Khu 2, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, trong quá trình chuẩn bị xét đơn yêu cầu và tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, anh Đỗ Minh Đ trình bày: Anh kết hôn với chị Trần Thị L năm 2009, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, do hai bên tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh thuộc khu 2 xã N, tình cảm vợ chồng hòa thuận. Vợ chồng anh có một con chung là Đỗ Diệu L, sinh ngày 03/12/2009. Đến giữa năm 2016, chị L nói là đi Hà Nội làm ăn vài tháng mới liên lạc hoặc về thăm con. Từ cuối năm 2017, chị L không quay về, không liên lạc với anh và gia đình. Gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có kết quả. Từ đó đến nay, chị L không liên lạc nên anh và gia đình không có tin tức gì của chị L. Nay anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T tuyên bố chị Trần Thị L mất tích để anh có căn cứ và giải quyết vụ kiện anh xin ly hôn chị L.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên có ý kiến: Tòa án thụ lý việc dân sự và giải quyết đúng theo các quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án nhân dân huyện T căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; điều 369, điều 370 ,389 Bộ luật tố tụng dân sự ; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đỗ Minh Đ. Tuyên bố chị Trần Thị L mất tích theo quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Anh Đỗ Minh Đ phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba nhận định:
. Anh Hà Minh Đ, chị Trần Thị L tự nguyện kết hôn năm 2008, đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại nhà bố mẹ anh Đ tại khu 2 xã N. Vợ chồng đã có với nhau một con chung là. Việc chị L đã về sinh sống tại khu 2 xã N được bố mẹ chị L là ông Trần Quang M, bà Kiều Thị T, trưởng khu 2 xã N xác nhận. Tại Sổ hộ khẩu gia đình ông Đỗ Văn Đ thuộc khu 2 xã N đã có tên chị Trần Thị L, sinh năm 1990, quan hệ với chủ hộ là con dâu. Theo anh Đ trình bày, giữa năm 2016 , chị L nói là đi Hà Nội làm ăn, thời gian đầu thỉnh thoảng về thăm con. Từ cuối năm 2017, chị L không quay về, không liên lạc với anh Đ và gia đình. Gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có kết quả. Từ đó đến nay, chị L không liên lạc gì với gia đình nên anh Đ và gia đình không có tin tức gì của chị L. Tòa án nhân dân huyện T đã xác minh tại gia đình chị L và được bố mẹ chị L xác nhận việc chị L đã bỏ đi không có tin tức từ năm 2016. Tòa án nhân dân huyện T đã thông tin tìm kiếm chị Trần Thị L trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hết thời hạn thông tin theo quy định của pháp luật chị L vẫn không trở về địa phương và cũng không có tin tức gì của chị L. Xét thấy chị L bỏ đi đến nay đã nhiều năm không có tin tức gì. Vì vậy, yêu cầu của anh Đ là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 68 của Bộ luật dân sự, cần chấp nhận yêu cầu của anh Đ, tuyên bố chị Trần Thị L đã mất tích.
Về lệ phí việc dân sự: Anh Đỗ Minh Đ phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 369, 370, 389, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố: Chị Trần Thị L, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: Khu 2, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ mất tích.
- Về lệ phí: Anh Đỗ Minh Đ phải chịu 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) lệ phí việc dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh Đỗ Minh Đ đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số AA/2020/0003205, ngày 01/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Anh Đ đã nộp đủ lệ phí việc dân sự sơ thẩm.
Người yêu cầu có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện, tỉnh; - UBND xã Ninh Dân; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | THẨM PHÁN Trần Thị Lệ Thanh |